Luận Văn Thạc Sĩ Về Đảng Lãnh Đạo Công Tác Dân Số và Kế Hoạch Hóa Gia Đình Từ Năm 2001 Đến Năm 2010

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng lãnh đạo công tác dân số kế hoạch hoá gia đình từ năm 2001 đến năm 2010, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

111
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2001-2005

1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề DS-KHHGĐ và khái lược tình hình DS-KHHGĐ ở Việt Nam trước năm 2001

1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề DS-KHHGĐ

1.3. Khái lược về công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam trước năm 2001

1.4. Chủ trương của Đảng về công tác DS-KHHGĐ giai đoạn 2001-2005

1.5. Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác DS-KHHGĐ

1.5.1. Chỉ đạo ban hành chính sách

1.5.2. Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2006-2010

2.1. Yêu cầu mới của công tác DS-KHHGĐ và chủ trương của Đảng

2.1.1. Yêu cầu mới của công tác DS-KHHGĐ

2.1.2. Chủ trương của Đảng

2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác DS-KHHGĐ

2.2.1. Chỉ đạo ban hành chính sách

2.2.2. Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

3.1. Bài học kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đảng Lãnh Đạo Công Tác Dân Số và Kế Hoạch Hóa Gia Đình 2001 2010

Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam. Từ năm 2001 đến năm 2010, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chủ trương và chính sách rõ ràng nhằm giảm mức sinh và nâng cao chất lượng dân số. Những chính sách này không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn tác động đến văn hóa và xã hội. Đảng đã nhận thức rõ rằng sự gia tăng dân số nhanh chóng có thể cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

1.1. Khái quát tình hình dân số Việt Nam trước năm 2001

Trước năm 2001, Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác DS-KHHGĐ. Tình hình dân số gia tăng nhanh chóng đã tạo ra áp lực lớn lên các nguồn lực xã hội và kinh tế. Các chính sách trước đó đã đạt được một số thành tựu nhưng vẫn chưa đủ để ổn định quy mô dân số.

1.2. Vai trò của Đảng trong công tác DS KHHGĐ

Đảng Cộng sản Việt Nam đã đóng vai trò lãnh đạo quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách DS-KHHGĐ. Các nghị quyết và chỉ thị của Đảng đã tạo ra khung pháp lý và định hướng cho các hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực này.

II. Những Thách Thức trong Công Tác Dân Số và Kế Hoạch Hóa Gia Đình 2001 2010

Trong giai đoạn 2001-2010, công tác DS-KHHGĐ đã gặp phải nhiều thách thức lớn. Sự gia tăng dân số nhanh chóng, sự phân bố dân cư không đồng đều và những vấn đề về chất lượng dân số đã đặt ra yêu cầu cấp bách cho các chính sách và giải pháp. Đảng đã nhận thức rõ những thách thức này và đã có những điều chỉnh cần thiết trong chiến lược.

2.1. Tình hình gia tăng dân số và áp lực lên nguồn lực

Gia tăng dân số đã tạo ra áp lực lớn lên các nguồn lực xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và y tế. Điều này đã dẫn đến việc cần thiết phải có các biện pháp kịp thời để kiểm soát mức sinh.

2.2. Vấn đề chất lượng dân số và sức khỏe sinh sản

Chất lượng dân số và sức khỏe sinh sản là những vấn đề quan trọng trong công tác DS-KHHGĐ. Đảng đã chú trọng đến việc nâng cao chất lượng dân số thông qua các chương trình giáo dục và chăm sóc sức khỏe.

III. Phương Pháp và Giải Pháp Chính trong Công Tác Dân Số 2001 2010

Để đối phó với những thách thức trong công tác DS-KHHGĐ, Đảng đã triển khai nhiều phương pháp và giải pháp hiệu quả. Các chương trình truyền thông, giáo dục và chăm sóc sức khỏe đã được thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của người dân về kế hoạch hóa gia đình.

3.1. Chương trình truyền thông về kế hoạch hóa gia đình

Chương trình truyền thông đã được triển khai rộng rãi nhằm nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của kế hoạch hóa gia đình. Các hoạt động truyền thông đã giúp người dân hiểu rõ hơn về các biện pháp tránh thai và sức khỏe sinh sản.

3.2. Các biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản

Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một phần quan trọng trong công tác DS-KHHGĐ. Đảng đã chỉ đạo thực hiện các biện pháp chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em, nhằm nâng cao chất lượng dân số.

IV. Kết Quả và Ứng Dụng Thực Tiễn của Công Tác Dân Số 2001 2010

Kết quả của công tác DS-KHHGĐ trong giai đoạn 2001-2010 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Mức sinh đã giảm đáng kể, và chất lượng dân số cũng được cải thiện. Những kết quả này đã góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

4.1. Thành tựu trong việc giảm mức sinh

Mức sinh đã giảm từ 2,5 con xuống còn 2,1 con trong giai đoạn này, đạt được mục tiêu mà Đảng đã đề ra. Điều này cho thấy sự hiệu quả của các chính sách và chương trình đã được triển khai.

4.2. Ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội

Công tác DS-KHHGĐ đã có ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế-xã hội. Việc giảm mức sinh đã giúp giảm áp lực lên các nguồn lực và tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững.

V. Kết Luận và Tương Lai của Công Tác Dân Số và Kế Hoạch Hóa Gia Đình

Công tác DS-KHHGĐ từ năm 2001 đến năm 2010 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức phía trước. Đảng cần tiếp tục điều chỉnh các chính sách để phù hợp với tình hình mới và đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số.

5.1. Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn 2001 2010

Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này sẽ là cơ sở để Đảng tiếp tục phát triển các chính sách DS-KHHGĐ trong tương lai. Việc lắng nghe ý kiến của người dân và điều chỉnh chính sách kịp thời là rất quan trọng.

5.2. Định hướng phát triển công tác DS KHHGĐ trong tương lai

Đảng cần có những định hướng rõ ràng cho công tác DS-KHHGĐ trong tương lai, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dân số. Các chương trình giáo dục và truyền thông cần được tiếp tục đẩy mạnh.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng lãnh đạo công tác dân số kế hoạch hoá gia đình từ năm 2001 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Đảng lãnh đạo công tác dân số-kế hoạch hóa gia giai đoạn 2001-2005 Chương 2. Đảng lãnh đạo công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006-2010 Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2001-2005 1. Những yếu tố ảnh hƣởng đến vấn đề DS-KHHGĐ và khái lƣợc tình hình DS-KHHGĐ ở Việt Nam trƣớc năm 2001 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề DS-KHHGĐ Muốn tìm hiểu công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình, trước hết cần phải hiểu những khái niệm: Dân số là gì, quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, sự phân bố dân cư, kế hoạch hóa gia đình. Dân số là một cộng đồng dân cư hay cộng đồng người chung sống trên một lãnh thổ được xác lập tại thời điểm cụ thể.

Quy mô dân số là tổng số dân của một địa phương, một quốc gia, một vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định. Cơ cấu dân số là sự phân loại dân số dựa trên các đặc trưng về giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp. Chất lượng dân số là tập hợp các thuộc tính về bản chất có liên quan đến tình trạng sức khỏe, trình độ giáo dục, văn hóa, trình độ khoa học kĩ thuật, cơ cấu và kĩ năng nghề nghiệp, xã hội và tính năng động của dân số. Sự phân bố dân cư: là việc phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lí, kinh tế hoặc một đơn vị hành chính.

Chính vì vậy chúng ta có thể hiểu công tác dân số là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và kiểm soát sinh sản, chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng dân số, giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân-gia đình-xã hội, góp phần xây dựng xã hội ổn định và phát triển bền vững. Kế hoạch hóa gia đình Dưới nhiều góc độ tiếp cận có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kế hoạch hóa gia đình. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quyết định số 315/CP, ngày 24/8/1992 của Hội đồng Chính phủ về Chiến lược truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình 1992-2000, trong phần 3 chương V viết:"Kế hoạch hóa gia đình có nghĩa là chủ động quyết định số con của mình và khoảng cách giữa các lần sinh thông qua việc áp dụng biện pháp tránh thai để có một gia đình ít con, khỏe mạnh, hạnh phúc, giàu có. Kế hoạch hóa gia đình là quyền và cũng là trách nhiệm của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng.

Họ được quyền tự do quyết định nhưng với ý thức trách nhiệm đầy đủ về số con của mình trên cơ sở những thông tin và những hiểu biết cần thiết để thực hiện những quyết định ấy". Theo khoản 9 điều 3 Pháp lệnh Dân số nêu: "Kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của gia đình, Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh con, nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình". Tiểu ban các chuyên gia tổ chức y tế thế giới (WHO) quan niệm: kế hoạch hóa gia đình bao gồm các vấn đề thực hiện giúp cho các cá nhân hay cặp vợ chồng đạt được những mục tiêu sau: tránh những trường hợp sinh không theo ý muốn, điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh, chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi bố mẹ. Đồng thời, kế hoạch hóa gia đình còn đồng nghĩa với kiểm soát sinh sản, nó còn có ý nghĩa rộng hơn kiểm soát sinh sản, bao gồm: hạn chế vô sinh và khoảng cách giữa các lần sinh, tư vấn về vô sinh, phát hiện những bệnh về cơ quan sinh sản, tư vấn hôn nhân, tư vấn tư cách làm cha, làm mẹ.

Tuy có những quan điểm khác nhau, song có thể thấy các tác giả đều thống nhất khái niệm kế hoạch hóa gia đình ở một số điểm sau: + Về độ tuổi kết hôn, + Xây dựng quy mô gia đình hợp lý, đó là sự điều chỉnh có ý thức của các cặp vợ chồng về số con, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Các biện pháp hạn chế sinh đẻ, + Tư cách làm cha, mẹ, + Nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình. Công tác DS-KHHGĐ là một vấn đề mang tính xã hội sâu sắc, khi thực hiện nó chịu sự tác động qua lại của nhiều yếu tố. Cụ thể: Yếu tố kinh tế: Trong quan hệ với vấn đề DS-KHHGĐ, yếu tố kinh tế đóng vai trò là nguyên nhân trực tiếp của quá trình biến động di cư nói chung và quá trình sinh đẻ nói riêng, nó còn đóng vai trò như là phương tiện vật chất cần thiết cho việc thực hiện các nhu cầu sinh đẻ, nuôi dạy con cái và chăm sóc sức khỏe. Ngoài ra yếu tố kinh tế còn tác động gián tiếp lên quá trình dân số như thay đổi điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần, biến đổi định hướng giá trị, lối sống và ý thức của mỗi cá nhân…Cùng với sự tăng trưởng kinh tế thì việc chấp nhận quy mô gia đình nhỏ độc lập cũng có chiều hướng tăng lên rõ rệt.

Thực tế cho thấy, những nơi kinh tế phát triển thì tỷ lệ gia tăng dân số lại thấp hơn so với những nơi kinh tế chậm phát triển công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở những nơi kinh tế phát triển cũng thường thuận lợi và đạt kết quả cao hơn. Hay nói cách khác, kinh tế phát triển tạo điều kiện cho trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng dân số không ngừng được cải thiện, do đó mà con người cũng có ý thức cao hơn về tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ (thực hiện sinh đẻ có kế hoạch để nuôi dạy con tốt, quan tâm và biết cách chăm sóc sức khỏe bản thân và gia đình…) Yếu tố nhận thức: Yếu tố nhận thức thể hiện sự hiểu biết của mọi thành viên trong gia đình và toàn xã hội về sức khỏe sinh sản, chăm sóc, nuôi dạy con cái, phòng và tránh thai ngoài ý muốn, hiểu biết và thực hiện đường lối, chủ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề DS- KHHGĐ. Yếu tố nhận thức tác động đến công tác DS-KHHGĐ ở chỗ: trình độ học vấn có quan hệ tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh, tức nơi nào có trình độ học vấn cao thì nơi đó có tỷ suất sinh thường thấp, còn nơi nào có trình độ học vấn thấp thì tỷ suất sinh thường cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cũng cao hơn. Những phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có ít con, bởi lẽ, một mặt công việc học tập và nghiên cứu mất một khoảng thời gian nhất định trong mỗi đời người, tuổi kết hôn nâng lên thì thời gian đẻ rút ngắn đi.

Đồng thời giúp họ tránh xa những hủ tục phong kiến lạc hậu, nhìn nhận thực tế cuộc sống để lựa chọn, tính toán phương án sinh đẻ cho phù hợp và khoa học, hơn thế, bằng kiến thức đã có những bậc làm cha, làm mẹ có trình độ học vấn cao, hiểu biết rộng nên việc chăm sóc con cái cũng tốt và có điều kiện hơn, giảm thiểu mức tử vong ở trẻ sơ sinh, xóa tâm lý sinh bù, sinh dự phòng. Yếu tố văn hóa: Mặc dù nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, các yếu tố văn hóa tốt đẹp ngày càng được phát huy nhưng không ít yếu tố văn hóa cũ, những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu vẫn tồn tại, cản trở công tác DS- KHHGĐ. Nước Việt Nam với đặc trưng văn hóa nông nghiệp lúa nước, nông nghiệp chưa thoát khỏi lạc hậu, mọi công việc đồng ruộng vẫn phải dựa vào sức mạnh cơ bắp của người đàn ông, đây là một trong những lý do khiến phần lớn các gia đình quá đề cao vai trò của người đàn ông trong gia đình, gây ra tâm lý phải sinh bằng được con trai để gánh vác trọng trách gia đình. Điều này đã tác động đến quy mô, tỷ lệ nam nữ trong gia đình, từ đó ảnh hưởng đến công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay ở nước ta, còn có những dân tộc thiểu số có tư tưởng lạc hậu chưa xóa bỏ được như tình trạng tảo hôn còn cao, việc dựng vợ gả chồng cho con do hẹn ước của các bậc làm cha mẹ, ép gả khi con cái chưa đến tuổi trưởng thành nhằm có thêm nhân lực về giúp gia đình, để sinh con đẻ cái. Những phong tục tập quán của chế độ phong kiến vẫn còn ăn sâu bám rễ cho đến nay như quan niệm: “trời sinh voi, trời sinh cỏ” vẫn phổ biến hay tư tưởng “có nếp, có tẻ” đã đè nặng lên tâm lý của nhiều gia đình, đặc biệt là đè nặng lên người phụ nữ. Những giáo lý, tư tưởng của nho giáo đã ăn sâu, bén rễ vào tâm thức của người Việt Nam. Tư tưởng nho giáo đề cao con trai, hạ thấp con gái “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” hình thành nên tâm lý ưa thích con trai và khát vọng có con trai để được công nhận là có hiếu, có người nối dõi tông đường và cũng là được thờ cúng khi về với tổ tiên.

Như vậy, có con trai không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn là ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm đạo đức đối với cha mẹ, tổ tiên, dòng họ. Sợi dây tâm thức xã hội vô hình nhưng có sức mạnh vô biên đã trói chặt cuộc đời của người Việt vào mục tiêu “phải có con trai” tạo thành một áp lực suốt đời không chỉ là của bản thân mà còn là của gia đình, nhất là người phụ nữ. Ở Việt Nam, tín ngưỡng tôn giáo chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tâm lý xã hội của cộng đồng, nó có khả năng chi phối hành vi, hoạt động và tình cảm của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ