Chương 1 gồm các phần chính sau: - Các khái niệm, lý thuyết liên quan đến marketing, nhân cách và các học thuyết về nhân cách. - Các mô hình lý thuyết và các học thuyết hành vi. - Đưa ra mô hình nghiên cứu chính thức. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Những nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân cách và sự thỏa mãn trong công việc dựa vào mô hình 5 yếu tố(Tác giả: Timonthy A.
Judge, Daniel Heller, Michael K. Mount) Nghiên cứu này đưa ra kết quả phân tích mối liên kết từ mô hình nhân cách 5 yếu tố (Big 5 model) tới sự thỏa mãn trong công việc. Mô hình được sử dụng như một khuôn mẫu tổ chức, 334 tương quan từ 163 mẫu độc lập được phân loại theo mô hình. Hệ số tương quan ước tính cho các mối tương quan với sự thỏa mãn trong công việc lần lượt là: - Hướng ngoại (Extraversion): 0.
- Sẵn sàng trải nghiệm (Openness to experience):0. - Tâm lý bất ổn (Neuroticism): -0. Kết quả chỉ ra rằng chỉ có mối liên hệ giữa yếu tố Tâm lí bất ổn và Hướng ngoại với sự thỏa mãn trong công việc trong suốt quá trình nghiên cứu. Theo một tập hợp, các đặc điểm của mô hình năm yếu tố có sự tương quan lớn ở mức 0.41 với sự thỏa mãn trong công việc, cho thấy sự hỗ trợ cho tính hợp lệ của nguồn phân tán sự hài lòng công việc khi các đặc điểm được tổ chức theo mô hình 5 nhân tố.
5 Theo như kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả, bất kể phương pháp trọng số nào được sử dụng thì 3 yếu tố: Hướng ngoại, Tận tâm và Tâm lí bất ổnlà những yếu tố dự báo đáng kể về mức độ thỏa mãn trong công việc.3 Nghiên cứu thực nghiệm về sự tham gia công việc và đặc điểm nhân cách: Trường hợp của Đài Loan (Tác giả: Chi-Shun Liao và Cheng-Wen Lee) Hành vi của con người đóng một vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa hiệu quả tổ chức, bất kể phát triển công nghệ. Đặc biệt, mọi nỗ lực để tối đa hóa hiệu quả tổ chức đòi hỏi mức độ tham gia công việc cao hơn (JI) trong số thành viên của một tổ chức (Elankumaran, 2004). Vậy nên mức độ tham giam công việc là một biến động lực quan trọng cho bất kỳ tổ chức nào. Trong thời đại kinh tế hiện đại nói riêng, mức độ tham gia công việc cũng góp phần vào sự sẵn có tổng thể của nguồn nhân lực (Gore, 2001).
Theo nhóm tác giả, đối với nhân viên có mức độ tham gia công việc cao, công việc của họ dường như không tránh được việc kết nối các sở thích, mục tiêu cũng như sự thỏa mãn mà họ có được từ việc thực hiện công việc một cách hiệu quả. Những người với mức độ tham gia công việc cao thường cảm thấy cạnh tranh và thành công hơn trong công việc. Họ tin rằng mục tiêu cá nhân và tổ chức của họ tương thích và có xu hướng cho ra những kết quả làm việc mang tính tích cực, việc này ảnh hưởng bởi các yếu tố nội sinh và đặc điểm nhân cách của họ. Tuy nhiên, vì một số người thể hiện sự biến đổi ít hơn trong nỗ lực của họ so với những người khác, có thể được các tổ chức quan tâm để xác định nhân viên nào, cho dù người quản lý hoặc giám sát, dễ bị thay đổi trong phản ứng của họ.
Nhóm tác giả sử dụng mô hình 5 yếu tố (Big 5 model)là nền tảng chủ đạo cho nghiên cứu của mình. Bài viết đề xuất một số mối quan hệ cụ thể giữa 5 yếu tố nhân cách trong mô hình Big Five và mức độ tham gia công việc, được điều chỉnh từ các đánh giá về nghiên cứu tâm lý học có liên quan, khi ứng dụng vào một mẫu trong thực tế. Nó cũng điều tra hiệu ứng nghịch đảo của Big Five và mức độ tham gia công việc. Kết quả cho thấy rằng các khía cạnh về nhân cách giúp xác định mức độ tham gia công việc của nhân viên, vì vậy khi một tổ chức tuyển dụng nhân viên mới hoặc cố gắng khuyến khích hiện tại nhân viên làm việc cùng nhau, người quản lí nên nhận ra 3 Theo www.org 6 các yếu tố nhân cách có liên quan và dự đoán mức độ hiệu quả và hạn chế để đánh giá và đưa ra những lời động viên phù hợp.
Bằng cách điều tra ảnh hưởng của 5 yếu tố nhân cách tới mức độ tham gia công việc, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng yếu tố Tâm lý bất ổncó ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ tham gia công việc của nhân viên, ví dụ như nhân viên có tâm lý bất ổn thường làm việc kém hiệu quả hơn trong công việc của họ. Tuy nhiên, các yếu tố Hướng ngoại, Sẵn sàng trải nghiệm, Nhạy cảm, Tận tâmđều ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực tới mức độ tham gia công việc của nhân viên. Mối quan hệ quan trọng giữa hai tập hợp các biến cũng gợi ý một số lợi ích tích cực của JI của nhân viên tại nơi làm việc (Costa và McCrae, 1992; Hurley, Knudstrup và Segrest, 2003; Organ và Lingl, 1995). Theo với dữ liệu được trình bày ở đây, một nhân viên có các yếu tố hướng ngoại, sẵn sàng trải nghiệm, độ nhạy cảm, và sự tận tâm cao có xu hướng thể hiện mức độ hòa đồng, trách nhiệm, hợp tác, suy nghĩ thoáng, hiệu suất, và mục tiêu nghề nghiệp cao hơn những nhân viên có tâm lý bất ổn, từ đó dẫn đến mối quan hệ tích cực với mức độ tham gia công việc.
Do đó, khi người quản lý đánh giá mức độ tham gia công việc của nhân viên, không chỉ nên giải quyết các yếu tố tác động môi trường mà còn các yếu tố về nhân cách của nhân viên để đảm bảo thành tích hiệu quả và hiệu quả mục tiêu công việc.2 Các nghiên cứu, thảo luận trong nước Bài viết “Mỗi người đều có 1 nhân cách” (Tác giả: Nhóm dịch thuật khoa tâm lý học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) Mỗi người đều có một nhân cách và nhân cách ấy sẽ giúp xác định giới hạn thành công, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống của bạn. Chúng ta đang bàn về nhân cách và không có gì quá khi nói rằng nhân cách là tài sản quý giá nhất của mỗi người. Nó đã giúp định hình cuộc sống và tiếp tục giúp bạn như vậy trong tương lai. Tất cả những cái mà bạn đạt được cho đến lúc này, tất cả những cái bạn trông đợi đạt được trong sự nghiệp, dù bạn là một người chồng hay vợ, bố hay mẹ tốt thì tình trạng sức khoẻ của bạn có thể bị ảnh hưởng bởi nhân cách của bạn và của những người xung quanh bạn.info 7 Bạn có thường xuyên mô tả ai đó có một nhân cách tuyệt vời.
Như vậy có nghĩa là bạn thuần tuý muốn nói người đó nhã nhặn, dễ chịu, thân thiện khi ở gần và dễ sống cùng – mẫu người mà bạn có thể chọn làm bạn, người cùng phòng, hoặc đồng nghiệp trong công việc. Nếu như bạn là người quản lý, bạn có thể tuyển người này. Nếu bạn đang chuẩn bị cho việc thiết lập mối quan hệ riêng tư bạn có thể cưới người này trên cơ sở nhận thức của bạn về nhân cách của người đó. Bạn cũng cũng có thể biết những người có nhân cách xấu.
Những người như vậy có thể tách biệt, hung hăng, không thân thiện, không dễ chịu hay khó có thể sống cùng. Bạn sẽ không thuê, không muốn quan hệ với người này, và tương tự như vậy họ cũng có thể bị những người khác xa lánh, hắt hủi và cô lập. Nhân cách của bạn có thể hạn chế hoặc mở rộng quan hệ của bạn trong cuộc sống. Nó có thể ngăn cản bạn trong việc chia sẻ một số kinh nghiệm với người khác hoặc cho phép bạn chia sẻ những kinh nghiệm ấy.
Nó có thể hạn chế và chế ngự một số người và mở rộng kinh nghiệm cho những người khác. Trong khi bạn nhận xét về nhân cách của người khác, họ cũng làm việc tương tự đối với bạn. Những quyết định này định hình cuộc sống của cả người bị nhận xét và người nhận xét, kéo dài trong suốt cuộc sống của chúng ta trong bất cứ tình huống xã hội nào, buộc chúng ta quan hệ với những người mới. Tất nhiên các loại tình huống xã hội mà bạn tham gia đã quy định nhân cách của bạn – chẳng hạn tính xã hội hạn chế hay sự nhút nhát của bạn.
Khi bạn biết mình đánh giá yếu tố này như thế nào thì bạn đã có một bức tranh khá rõ về toàn bộ nhân cách của mình5. Các hướng nghiên cứu về nhân cách con người (Tác giả: Phạm Thu Trang-Thông tin khoa học xã hội số 10-2016) Theo tác giả, nghiên cứu về nhân cách đã được phân tích với các mức độ, phạm vi, mục đích khác nhau và từ nhiều góc độ như: tâm lý học, xã hội học, đạo đức học, luật học,v. Trên thế giới vào những năm 1970-1980, nhiều trào lưu nghiên cứu về nhân cách trong tâm lý học đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia. Ở nước ta, nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam ban đầu chủ yếu được thể hiện trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về con người Việt Nam qua các tác phẩm của Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên cùng nhiều nhà khoa học khác, về 5 Nguồn: ngocquocviet.com 8 sau, nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam đã được chú ý nhiều từ giới tâm lý học.
Hiện nay, nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam không chỉ được đề cập đến qua tâm lý học mà còn từ nhiều góc độ nghiên cứu khác như: đạo đức học, văn học và văn hóa học, liên ngành khoa học xã hội, triết học. Các nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học Hiện nay, trong nghiên cứu, nhân cách trước hết và chủ yếu vẫn là đối tượng của tâm lý học. Trong tâm lý học có riêng phân ngành là tâm lý học nhân cách đi sâu nghiên cứu đối tượng này. Theo đó, các quan điểm, lý thuyết về nhân cách cùng với những vấn đề của nó như khái niệm, cấu trúc, quá trình hình thành và phát triển cũng chủ yếu được xem xét từ góc độ của các nghiên cứu tâm lý học.