Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vũ Thị Hương, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Tạ Văn Thông và PGS.TS. Đào Thị Vân, tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên. Luận án thuộc ngành Ngôn ngữ Việt Nam, mã số đào tạo 9220102.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học, từ ngữ giữ vai trò trung tâm với chức năng gọi tên, biểu thị quan hệ, kiến tạo câu, đồng thời phản ánh phương thức tri nhận và ứng xử văn hóa của cộng đồng bản ngữ. Đối với tác phẩm nghệ thuật, ngôn ngữ luôn là đối tượng khảo sát trọng tâm ở các bình diện hình thức cấu tạo, ngữ nghĩa và phong cách. Âm nhạc dành cho thiếu nhi tại Việt Nam được xác định là phương tiện giáo dục tri thức đời sống và nhân cách trong nhà trường, đặc biệt ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở. Sức hấp dẫn của ca khúc thiếu nhi có sự đóng góp căn bản từ phần ca từ. Mặc dù các nghiên cứu về ca khúc tiếng Việt đã được triển khai dưới nhiều góc độ khác nhau, song việc khảo sát chuyên biệt về lớp từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ. Việc phân tích lớp từ ngữ này giúp làm rõ đặc điểm ca từ trong văn bản nghệ thuật, cách thức định danh và gọi tên sự vật, đồng thời cung cấp luận cứ cho mối quan hệ giữa ngôn ngữ học, giáo dục học và âm nhạc học.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ đặc điểm của từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi trên các phương diện: đặc điểm cấu tạo, cách gọi sự vật (danh pháp hay chỉ sự vật), đặc điểm ngữ nghĩa và vai trò giáo dục. Từ đó, luận án hướng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng từ ngữ trong các sáng tác âm nhạc dành cho thiếu nhi Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác lập 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa một số khái niệm lí thuyết về cơ sở ngôn ngữ học (từ vựng - ngữ nghĩa, trường nghĩa, phong cách học) và một số vấn đề tâm lí học, giáo dục học làm cơ sở lí luận để triển khai đề tài.
  2. Khảo sát, thống kê, phân loại các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi.
  3. Miêu tả đặc điểm của các từ ngữ chỉ sự vật về cấu tạo, cách gọi sự vật và ngữ nghĩa trong các ca khúc dành cho thiếu nhi.
  4. Tìm hiểu vai trò giáo dục của việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các từ ngữ chỉ sự vật (con người, đồ vật, động vật, thực vật, hiện tượng tự nhiên, sự vật trừu tượng) xuất hiện trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi được sáng tác từ năm 1945 đến nay.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào ba bình diện chính: (1) Đặc điểm cấu tạo từ ngữ và cách sử dụng từ ngữ để gọi sự vật; (2) Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật; (3) Vai trò giáo dục của việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi.
  • Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát 736 bài hát thiếu nhi tiêu biểu từ năm 1945 đến nay, được thẩm định bởi Hội đồng Âm nhạc và tuyển chọn trong các ấn phẩm chính thức:
    • Tổng tập bài hát thiếu nhi Việt Nam: Giai điệu thần tiên (gồm các tập 1, 2, 3, 4 do Hội Âm nhạc Hà Nội biên soạn, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2013);
    • 50 bài hát nhi đồng được yêu thích (Nhà xuất bản Âm nhạc);
    • Trẻ thơ hát (Cù Minh Nhật tuyển soạn, Nhà xuất bản Âm nhạc).
Tiêu chí Nội dung xác lập trong luận án
Tên đề tài Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi
Tác giả Vũ Thị Hương
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
Ngành và Mã số Ngôn ngữ Việt Nam – Mã số: 9220102
Người hướng dẫn 1. PGS.TS. Tạ Văn Thông; 2. PGS.TS. Đào Thị Vân
Dung lượng ngữ liệu 736 ca khúc thiếu nhi (giai đoạn từ năm 1945 đến nay)

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích tổng quan lịch sử nghiên cứu dựa trên hai mảng tư liệu chính: các công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt và các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong ca khúc.

Các nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt

Vận dụng lí thuyết hệ thống - cấu trúc của F. de Saussure, các công trình đi trước được luận án phân chia thành hai hướng tiếp cận cơ bản:

Hướng nghiên cứu nội bộ tiếng Việt theo trường hoặc nhóm từ vựng

  • Nhóm từ ngữ chỉ người: Phạm Tất Thắng nghiên cứu tên chính danh người Việt dưới dạng tổ hợp định danh, xác lập 5 kiểu tên gọi có độ dài từ 2 đến 6 thành tố với 13 khuôn cấu trúc; Nguyễn Đức Tồn khảo sát danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ sự kết thúc cuộc đời, tên gọi bộ phận cơ thể gắn với biểu trưng tâm lí; Phạm Thị Hoà khảo sát hiện tượng nhiều nghĩa của động từ nói năng qua cơ chế ẩn dụ và hoán dụ; Nguyễn Thị Thu Hiền nghiên cứu trường từ vựng chỉ người Tây Nguyên trong tác phẩm của Nguyên Ngọc; Đỗ Thị Kim Liên khảo sát từ ngữ thể hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ Việt.
  • Nhóm từ ngữ chỉ động vật: Hoàng Trọng Canh thống kê 1911 từ ngữ nghề biển vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh; Nguyễn Văn Nở phân tích cơ chế tạo nghĩa biểu trưng của hình ảnh động vật trong tục ngữ; Nguyễn Thị Bạch Dương khảo sát trường từ vựng động vật trong 812 truyện đồng thoại Việt Nam; cùng các nghiên cứu của Nguyễn Bích Hà, Đỗ Thị Hoà, Trịnh Thị Cẩm Lan, Triều Nguyên.
  • Nhóm từ ngữ chỉ thực vật: Cao Thị Thu khảo sát 657 tên gọi thực vật trong Từ điển tiếng Việt; Bùi Minh Toán phân lập 58 từ chỉ cỏ cây trong Truyện Kiều thành 3 tiểu trường (khái quát, cụ thể, bộ phận); Đặng Thị Hảo Tâm vận dụng lí thuyết trường nghĩa phân loại 5 tiểu trường thực vật trong thơ Nôm Đường luật.
  • Nhóm từ ngữ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội: Nguyễn Văn An nghiên cứu từ ngữ nghề gốm Thổ Hà; Hoàng Trọng Canh nghiên cứu từ ngữ chỉ công cụ sản xuất, sinh hoạt Nghệ - Tĩnh; Đặng Thị Hảo Tâm nghiên cứu trường từ vựng món ăn; cùng các công trình của Nguyễn Phương Anh, Lê Thị Hà, Chu Thị Hảo, Trần Thị Mai, Trịnh Sâm, Hồ Xuân Tuyên, Đinh Thị Trang.

Hướng nghiên cứu đối sánh ngôn ngữ

  • Nguyễn Thúy Khanh đối sánh 623 tên gọi động vật trong tiếng Việt với tiếng Nga, chỉ ra đặc trưng tư duy phạm trù mạnh hơn ở tiếng Nga và xu hướng ẩn dụ, hoán dụ trong tiếng Việt;
  • Nguyễn Thế Truyền đối sánh cấu trúc định danh của 652 tên gọi loài chim trong tiếng Hán và 318 tên gọi trong tiếng Việt, phân tích 14 yếu tố khu biệt theo phương thức ghép chính phụ;
  • Nguyễn Ngọc Vũ phân tích 243 từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán và 301 từ ngữ trong tiếng Việt qua tục ngữ, ca dao bằng mô hình ẩn dụ và hoán dụ ý niệm;
  • Các công trình đối sánh khác của Chănphômavông, Phan Văn Quế, Nguyễn Thanh Tùng.

Các nghiên cứu về ngôn ngữ trong ca khúc

  • Nghiên cứu chung về ca từ: Dương Viết Á trong công trình Ca từ trong âm nhạc Việt Nam (2005) đã xác định khái niệm ca từ là toàn bộ phần ngôn ngữ văn học trong tác phẩm âm nhạc và phân tích mối quan hệ giữa loại hình ngôn ngữ với lời ca. Bùi Vĩnh Phúc nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong âm nhạc Trịnh Công Sơn. Phạm Thị Mai Thu (2015) khảo sát đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa của ca từ trong diễn xướng chầu văn.
  • Nghiên cứu ca từ theo tác gia và thể loại: Lê Thị Thu Hiền (2007), Nguyễn Thị Bích Hạnh (2008), Hàn Thị Thu Hường (2010) nghiên cứu ca từ Trịnh Công Sơn ở các bình diện nhân sinh quan, biểu tượng và so sánh tu từ; Lê Ngọc Hậu (2002) nghiên cứu ca từ cho giới trẻ; Nguyễn Thị Kim Soa (2011) tìm hiểu ca khúc sử dụng chất liệu dân ca Nghệ Tĩnh.
  • Nghiên cứu về ca khúc thiếu nhi: Đỗ Thị Minh Chính khảo sát quá trình chuyển hóa từ đồng dao truyền thống sang bài hát đồng dao cho thiếu nhi trong nhà trường. Nhiều nhạc sĩ có đóng góp lớn được điểm lại gồm Phong Nhã, Lưu Hữu Phước, Phạm Tuyên, Hàn Ngọc Bích, Hoàng Long, Hoàng Lân.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu xem xét ca từ như một yếu tố phụ trợ trong nghiên cứu âm nhạc học hoặc tiếp cận văn hóa học, chưa có công trình nào miêu tả chuyên biệt, có hệ thống về mặt ngôn ngữ học đối với lớp từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi. Luận án được triển khai để giải quyết khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Quan niệm về từ, ngữ và từ loại tiếng Việt

  • Từ: Tiếp thu quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết và Đỗ Hữu Châu, từ được định nghĩa là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất độc lập về hình thức và ý nghĩa, có tính bất biến về ngữ âm và đồng loạt về cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa. Về phương thức cấu tạo, tiếng Việt sử dụng ba phương thức: từ hóa hình vị (tạo từ đơn đơn âm), ghép hình vị (tạo từ ghép phân nghĩa và từ ghép hợp nghĩa), và láy hình vị (tạo từ láy).
  • Ngữ và danh ngữ: Tiếp thu quan niệm của Diệp Quang Ban, ngữ là tổ hợp từ có quan hệ chính phụ gồm thành tố chính và thành tố phụ. Danh ngữ là ngữ có danh từ làm trung tâm. Luận án phân loại danh từ thành danh từ riêng và danh từ chung (gồm danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp: danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ sự vật, danh từ chỉ chất liệu, danh từ trừu tượng). Đồng thời xem xét các trường hợp danh động từ và danh tính từ.

Lý thuyết ngữ nghĩa và trường từ vựng - ngữ nghĩa

  • Cấu trúc nghĩa của từ: Luận án vận dụng mô hình tháp nghĩa không gian của Đỗ Hữu Châu (kế thừa các quan niệm của A. A. Reformatski và Ju. D. Aprecjan). Nghĩa của từ gồm các thành tố: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa ngữ pháp.
  • Trường từ vựng - ngữ nghĩa: Tiếp thu lí thuyết trường của J. Trier và Đỗ Hữu Châu, phân chia thành: trường nghĩa dọc (trường biểu vật, trường biểu niệm) và trường nghĩa ngang (trường tuyến tính, trường liên tưởng). Luận án khảo sát hiện tượng chuyển trường nghĩa và biểu tượng ngôn ngữ – kết quả của quá trình ẩn dụ hóa từ sự vật cụ thể sang ý niệm trừu tượng.

Lý thuyết định danh và cách gọi sự vật

  • Dựa trên quan điểm của G. Consanski và Nguyễn Thiện Giáp, luận án phân biệt:
    • Định danh: Thuộc hệ thống ngôn ngữ, tạo ra tên gọi chung có tính ổn định trong từ vựng cộng đồng.
    • Cách gọi sự vật (chỉ sự vật/danh pháp): Thuộc bình diện lời nói và tạo lập văn bản nghệ thuật cụ thể. Đây là hoạt động lựa chọn, kết hợp linh hoạt mang tính cá nhân, phụ thuộc vào ngữ cảnh và phong cách tác giả.
  • Khái niệm sự vật: Là những thực thể vật chất hoặc khái niệm trừu tượng có ranh giới phân biệt, chiếm chỗ trong không gian hoặc trong tâm thức, bao gồm con người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng.

Cơ sở âm nhạc và tâm lí - giáo dục học

  • Khái niệm ca từ theo Dương Viết Á: Phần ngôn ngữ văn học trong tác phẩm âm nhạc (bao gồm tiêu đề, đề từ, ghi chú và lời ca).
  • Mối quan hệ giữa ca từ và ca khúc: Ca khúc thiếu nhi có đặc thù về âm vực khiêm tốn (thường trong vòng 1 quãng 8), giai điệu mô phỏng âm điệu tiếng nói, cấu trúc lời ca rõ ràng, lặp lại có quy luật để phù hợp với lứa tuổi từ mầm non đến trung học cơ sở.

Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Phân tích các đặc tính ngữ âm, cấu tạo, ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ ngữ; tổng hợp thành các quy luật gọi tên và sử dụng.
  • Phương pháp phân tích nghĩa: Phân tích quan hệ ngữ nghĩa trong văn bản, ngữ cảnh xuất hiện, sự biến đổi nghĩa bề mặt sang nghĩa biểu trưng.
  • Thủ pháp hệ thống hóa: Xác lập danh sách và hệ thống hóa các biểu thức ngôn ngữ chỉ sự vật.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Định lượng tần số xuất hiện, phân loại các mô hình cấu tạo, nhóm nghĩa và quy luật phân bố của các từ ngữ.
  • Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức Ngôn ngữ học với Âm nhạc học, Văn hóa học, Tâm lí học và Giáo dục học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Ngữ liệu được trích xuất từ 736 văn bản bài hát thiếu nhi trong ba tuyển tập: Tổng tập bài hát thiếu nhi Việt Nam: Giai điệu thần tiên (4 tập, 2013), 50 bài hát nhi đồng được yêu thích và Trẻ thơ hát.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 có dung lượng từ trang 6 đến trang 46 của luận án, thực hiện hai nội dung chính:

  • Hệ thống hóa toàn diện các hướng nghiên cứu trong nước về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt (nghiên cứu nội bộ theo các tiểu trường người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng; nghiên cứu đối sánh Việt - Nga, Việt - Hán) và các nghiên cứu về ca từ trong âm nhạc Việt Nam.
  • Thiết lập khung lí thuyết liên ngành làm công cụ nghiên cứu: lí thuyết từ và ngữ tiếng Việt (quan niệm Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban); lí thuyết ngữ nghĩa và trường từ vựng; phong cách học văn bản nghệ thuật (quan niệm Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Hữu Đạt); lí thuyết định danh ngôn ngữ và cơ chế tạo lập biểu thức gọi sự vật trong lời nói; cơ sở âm nhạc học về ca từ (Dương Viết Á) và đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi thiếu nhi.

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và cách gọi sự vật qua các từ ngữ trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

Chương 2 có dung lượng từ trang 47 đến trang 81, tập trung khảo sát các đơn vị từ ngữ chỉ sự vật ở phương diện hình thức cấu tạo và cơ chế gọi sự vật:

  • Đặc điểm cấu tạo:
    • Thống kê, phân loại các biểu thức ngôn ngữ chỉ sự vật (Bảng 2.1a) và tổng kết số lượt dùng theo tần số xuất hiện (Bảng 2.1b).
    • Khảo sát cấu tạo từ chỉ sự vật: Phân tích tỉ lệ và đặc điểm của từ đơn (từ đơn đơn âm như ông, bà, mẹ, chim, hoa; từ đơn đa âm phiên âm như ô tô, ti vi, ghi ta, rô bốt, Đô-rê-mon); từ ghép (từ ghép phân nghĩa như chim sâu, cá rô, xe đạp, nón lá; từ ghép hợp nghĩa như bố mẹ, thầy cô, cây cỏ, đất trời); và từ láy.
    • Khảo sát cấu tạo ngữ chỉ sự vật: Phân tích các mô hình danh ngữ (Bảng 2.2) với cấu trúc thành tố chính (danh từ trung tâm) kết hợp các thành tố phụ trước (chỉ số lượng, loại thể) và thành tố phụ sau (chỉ đặc trưng, phẩm chất, sở hữu, vị trí).
    • Nguồn gốc từ ngữ: Xác định nguồn gốc thuần Việt chiếm ưu thế, kết hợp với các từ gốc Hán mang sắc thái trang trọng và các từ gốc Ấn Âu phiên âm dùng cho các đồ vật, nhân vật hiện đại.
  • Đặc điểm của cách gọi sự vật:
    • Tổng hợp các cách gọi sự vật (Bảng 2.3) thông qua các biểu thức gọi sự vật (BTGSV).
    • Miêu tả và mô hình hóa cách gọi sự vật qua 3 mô hình phương thức:
      • Mô hình phương thức cơ sở (Bảng 2.4): Sử dụng các danh từ định danh trực tiếp sự vật.
      • Mô hình phương thức phức (Bảng 2.5): Mở rộng cấu trúc bằng các thành tố miêu tả, so sánh hoặc hoán dụ, ẩn dụ để cụ thể hóa hình ảnh.
      • Mô hình phương thức rút gọn (Bảng 2.6): Lược bỏ bớt thành tố loại thể hoặc thành tố chỉ loại lớn, tạo nên cách gọi ngắn gọn, nhịp nhàng theo giai điệu bài hát.

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

Chương 3 có dung lượng từ trang 82 đến trang 114, đi sâu phân tích hệ thống ngữ nghĩa và cơ chế biểu trưng:

  • Phân loại các nhóm từ ngữ chỉ sự vật (Bảng 3.1): Hệ thống hóa thành 5 nhóm tiểu trường ngữ nghĩa cụ thể:
    1. Từ ngữ chỉ người: Khảo sát từ ngữ chỉ người trong gia đình theo quan hệ thứ bậc (Bảng 3.2: ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em...) và từ ngữ chỉ người trong quan hệ xã hội (Bảng 3.3: thầy giáo, cô giáo, bạn bè, chú bộ đội, cô công nhân, Bác Hồ...).
    2. Từ ngữ chỉ động vật và bộ phận cơ thể động vật: Phân loại theo phạm vi sinh trưởng (Bảng 3.4: động vật nuôi trong nhà, động vật hoang dã, loài sống dưới nước, côn trùng, chim muông).
    3. Từ ngữ chỉ thực vật và bộ phận thực vật: Phân loại theo phạm vi sinh trưởng (Bảng 3.5: cây bóng mát, hoa, quả, cây lương thực, cây cảnh).
    4. Từ ngữ chỉ đồ vật và các chi tiết của đồ vật: Phân loại theo phạm vi sử dụng (Bảng 3.6: đồ dùng học tập, đồ chơi, trang phục, phương tiện giao thông, công cụ lao động).
    5. Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng: Khảo sát các từ ngữ chỉ thời tiết, thiên thể, thời gian và các khái niệm trừu tượng (Bảng 3.7: mặt trời, vầng trăng, ánh sao, gió, mưa, niềm vui, tình bạn, tuổi thơ...).
  • Các biểu tượng thường gặp:
    • Phân tích cơ chế chuyển trường nghĩa để tạo lập biểu tượng nghệ thuật dựa trên các nhóm từ ngữ: biểu tượng từ động vật (chim bồ câu – hòa bình; con ong, con kiến – chăm chỉ; mèo lười – thói xấu); biểu tượng từ thực vật (cây tre, cây lúa – quê hương, sức sống; hoa sen – thanh cao); biểu tượng từ đồ vật (khăn quàng đỏ, trang sách hồng); biểu tượng từ hiện tượng thiên nhiên (mặt trời, vầng trăng, ánh sao); biểu tượng từ người (hình ảnh Bác Hồ, bàn tay mẹ).

Chương 4: Vai trò giáo dục của việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

Chương 4 có dung lượng từ trang 115 đến trang 149, luận giải giá trị ứng dụng sư phạm và chức năng tác động của ca từ:

  • Khái quát vai trò của ca khúc trong việc giáo dục tri thức đời sống và nhân cách cho trẻ em Việt Nam.
  • Ba vai trò giáo dục cụ thể của từ ngữ chỉ sự vật:
    1. Hình thành và phát triển kĩ năng tiếng Việt: Giúp trẻ làm giàu vốn từ vựng chỉ sự vật xung quanh, nắm bắt các cấu trúc ngữ pháp danh ngữ chuẩn mực, rèn luyện cách phát âm và khả năng liên kết văn bản.
    2. Nâng cao nhận thức về thế giới: Mở rộng hiểu biết của thiếu nhi về các sự vật trong thế giới tự nhiên (muông thú, cây cỏ, thời tiết) và đời sống xã hội (nghề nghiệp, các mối quan hệ gia đình, trường học, đất nước).
    3. Giáo dục nhân cách và định hướng giá trị thẩm mĩ: Bồi dưỡng tình cảm đạo đức (lòng hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính thầy cô, tình bạn bè, tình yêu quê hương), định hướng cảm thụ cái đẹp thông qua các hình ảnh biểu trưng trong sáng, ngăn ngừa các tính nết xấu.
Chương Tên chương Số trang Nội dung trọng tâm
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận 6–46 Tổng quan lịch sử nghiên cứu; xác lập khung lí thuyết ngôn ngữ học, âm nhạc học và tâm lí giáo dục.
Chương 2 Đặc điểm cấu tạo và cách gọi sự vật qua các từ ngữ trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 47–81 Khảo sát cấu tạo từ (đơn, ghép, láy), danh ngữ; nguồn gốc từ ngữ; mô hình hóa 3 phương thức gọi sự vật (cơ sở, phức, rút gọn).
Chương 3 Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 82–114 Phân tích 5 tiểu trường ngữ nghĩa (người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng/trừu tượng); cơ chế biểu tượng hóa.
Chương 4 Vai trò giáo dục của việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 115–149 Đánh giá 3 vai trò: phát triển kĩ năng tiếng Việt, nâng cao nhận thức thế giới, giáo dục nhân cách và thẩm mĩ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận

  • Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đầu tiên về đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật (trên các bình diện cấu tạo, cách gọi sự vật và ngữ nghĩa) trong một thể loại văn bản nghệ thuật cụ thể: ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi.
  • Góp phần làm rõ mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy của người Việt được thể hiện thông qua sự lựa chọn và sử dụng từ ngữ trong văn bản nghệ thuật âm nhạc.
  • Cung cấp dữ liệu thực chứng và cơ sở lí luận hữu ích cho chuyên ngành Từ vựng học tiếng Việt, Phong cách học tiếng Việt, đồng thời củng cố hướng tiếp cận liên ngành giữa Ngôn ngữ học với Âm nhạc học và Giáo dục học.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho việc biên soạn giáo trình, tài liệu chuyên đề về đặc điểm tiếng Việt trong phong cách nghệ thuật tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm.
  • Cung cấp các gợi ý khoa học cho các nhạc sĩ, tác giả sáng tác ca khúc thiếu nhi trong việc định hướng lựa chọn ca từ, cấu trúc danh ngữ và xây dựng hình ảnh biểu tượng phù hợp với tâm lí tiếp nhận lứa tuổi.
  • Hỗ trợ giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở trong việc giảng dạy âm nhạc, phân tích lời ca và giải thích nghĩa từ ngữ cho học sinh trong các giờ học hát và hoạt động giáo dục ngôn ngữ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Giới hạn phạm vi từ loại: Luận án chỉ tập trung khảo sát lớp từ ngữ chỉ sự vật (danh từ, danh ngữ), chưa bao quát toàn bộ các lớp từ ngữ khác trong ca từ ca khúc thiếu nhi (như từ ngữ chỉ hành động, trạng thái, tính chất).
  • Giới hạn nguồn ngữ liệu: Ngữ liệu nghiên cứu giới hạn trong phạm vi 736 bài hát được tuyển chọn trong các tập sách xuất bản chính thức từ năm 1945 đến nay, chưa bao quát toàn bộ các sáng tác mới của thiếu nhi trên không gian số hoặc các bài hát thiếu nhi tự phát ngoài nhà trường.
  • Giới hạn độ tuổi tiếp nhận: Đối tượng tiếp nhận được giới hạn từ lứa tuổi mầm non đến trung học cơ sở, chưa phân tích chuyên sâu sự phân hóa tiếp nhận theo từng độ tuổi hẹp.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các lớp từ loại khác trong ca khúc thiếu nhi, đặc biệt là hệ thống từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái (động từ) và đặc điểm, tính chất (tính từ).
  • Khảo sát sự vận động của ngôn ngữ ca khúc thiếu nhi trong giai đoạn đương đại dưới tác động của truyền thông đa phương tiện và hội nhập văn hóa.
  • Thực hiện các nghiên cứu đối sánh ngôn ngữ ca từ giữa ca khúc thiếu nhi với ca khúc dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên hoặc đối sánh liên ngôn ngữ giữa ca khúc thiếu nhi tiếng Việt với ca khúc thiếu nhi của các ngôn ngữ khác.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên ngành Ngôn ngữ học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp phân tích trường từ vựng - ngữ nghĩa, phương pháp khảo sát định danh và gọi tên sự vật trong văn bản nghệ thuật; các chương 1, 2, 3 cung cấp khung thao tác xử lí ngữ liệu nghệ thuật.
  • Giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học, Sư phạm Âm nhạc: Nội dung Chương 4 cung cấp luận cứ khoa học để phân tích ca từ, thiết kế bài giảng dạy hát tích hợp với giáo dục phát triển ngôn ngữ và nhận thức thế giới cho trẻ em.
  • Nhạc sĩ, nhà lí luận phê bình âm nhạc: Cung cấp các số liệu và mô hình phân tích cấu tạo ca từ, giúp người sáng tác hiểu rõ quy luật kết hợp từ ngữ, tránh việc gò ép từ ngữ theo giai điệu gây sai lệch ngữ nghĩa hoặc xa lạ với tâm lí trẻ thơ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát khối ngữ liệu gồm bao nhiêu ca khúc và từ những nguồn xuất bản nào?

Luận án khảo sát tổng cộng 736 ca khúc thiếu nhi tiêu biểu sáng tác từ năm 1945 đến nay, được trích xuất từ 3 nguồn ấn phẩm chính thức: bộ sách Tổng tập bài hát thiếu nhi Việt Nam: Giai điệu thần tiên (gồm các tập 1, 2, 3, 4 do Hội Âm nhạc Hà Nội biên soạn, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2013); tuyển tập 50 bài hát nhi đồng được yêu thích (Nhà xuất bản Âm nhạc); và tuyển tập Trẻ thơ hát (Cù Minh Nhật tuyển soạn, Nhà xuất bản Âm nhạc).

2. Tác giả luận án phân biệt khái niệm "định danh" và "cách gọi sự vật" như thế nào?

Theo luận án, định danh và cách gọi sự vật cùng hướng tới đối tượng thực tế nhưng thuộc hai bình diện đối lập tương đối:

  • Định danh: Thuộc hệ thống ngôn ngữ, mang tính xã hội và ổn định cao, tạo ra các tên gọi chung trong kho từ vựng của cộng đồng.
  • Cách gọi sự vật (chỉ sự vật/danh pháp): Thuộc bình diện lời nói trong quá trình tạo lập văn bản cụ thể. Nó mang tính cá nhân, linh hoạt, phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, văn cảnh nghệ thuật và ý đồ tu từ của tác giả.

3. Hệ thống từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi được chia thành những nhóm tiểu trường ngữ nghĩa nào?

Luận án phân chia hệ thống từ ngữ chỉ sự vật thành 5 nhóm tiểu trường ngữ nghĩa chính:

  1. Từ ngữ chỉ người (chia thành người trong gia đình theo thứ bậc và người trong quan hệ xã hội);
  2. Từ ngữ chỉ động vật và bộ phận cơ thể động vật (phân theo phạm vi sinh trưởng);
  3. Từ ngữ chỉ thực vật và bộ phận thực vật (phân theo phạm vi sinh trưởng);
  4. Từ ngữ chỉ đồ vật và chi tiết đồ vật (phân theo phạm vi sử dụng);
  5. Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng.

4. Luận án xác lập những mô hình phương thức nào để miêu tả cách gọi sự vật trong ca khúc thiếu nhi?

Luận án phân loại và mô hình hóa cách gọi sự vật qua 3 mô hình phương thức chính:

  • Mô hình phương thức cơ sở (Bảng 2.4): Gọi tên sự vật trực tiếp bằng danh từ định danh;
  • Mô hình phương thức phức (Bảng 2.5): Mở rộng danh từ bằng các thành tố phụ miêu tả, so sánh, hoặc chuyển nghĩa tu từ;
  • Mô hình phương thức rút gọn (Bảng 2.6): Tối giản các thành tố loại thể hoặc chỉ loại để phù hợp với tiết tấu âm nhạc.

5. Từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi đóng vai trò giáo dục trên những phương diện nào?

Luận án chỉ ra 3 vai trò giáo dục chủ yếu:

  1. Phát triển kĩ năng tiếng Việt cho trẻ (làm giàu vốn từ, củng cố cấu trúc danh ngữ, rèn luyện ngữ âm);
  2. Nâng cao nhận thức về thế giới khách quan (hiểu biết về tự nhiên, xã hội, nghề nghiệp, gia đình);
  3. Giáo dục nhân cách và định hướng giá trị thẩm mĩ (bồi dưỡng tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, lòng kính trọng người lớn và tiếp nhận cái đẹp).

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi" của tác giả Vũ Thị Hương là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ liệu ca khúc thiếu nhi từ giác độ Ngôn ngữ Việt Nam. Thông qua việc khảo sát 736 ca khúc tiêu biểu từ năm 1945 đến nay, luận án đã miêu tả toàn diện đặc điểm cấu tạo, mô hình hóa các phương thức gọi sự vật, phân loại 5 tiểu trường ngữ nghĩa và các biểu tượng nghệ thuật. Công trình khẳng định vai trò của từ ngữ chỉ sự vật trong việc phát triển ngôn ngữ, nhận thức và nhân cách cho trẻ em, đồng thời cung cấp nguồn ngữ liệu và luận cứ khoa học có giá trị cho nghiên cứu từ vựng học, phong cách học và thực tiễn giảng dạy.