Chương 1. Cơ sở lý luận Trong chương này, luận văn điểm qua các vấn đề lý luận liên quan đến dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ như: khái niệm ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ, vấn đề thụ đắc ngôn ngữ và phương pháp day hoc ngoại ngữ. Ngoài ra, chúng tôi còn đề cập đến một số vấn đề liên quan đến QN như: khái niệm quán ngữ, phân biệt quán ngữ với thành ngữ, phân loại quán ngữ tiếng Việt và đặc điểm của quán ngữ tiếng Việt. Khảo sát quán ngữ trong các giáo trình dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Chương 2 tìm hiểu QN trong các GTDTV như một ngoại ngữ.
Đồng thời, trong chương này, chúng tôi sẽ tiến hành thống kê, phân chia và đưa ra những nhận xét về số lượng và đặc điểm của QN được dạy trong các GTDTV. như một ngoại ngữ. Thực trạng và những đề xuất về việc dạy quán ngữ trong các giáo trình dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Chương 3 tập trung nghiên cứu thực trạng giảng dạy QN trong các GTDTV. Trong đó, chúng tôi chủ yếu đi sâu tìm hiểu về danh sách các QN được đề cập giảng dạy, cách thức giải thích nghĩa và các dạng bài tập về QN.
Từ đó, chúng tôi đưa ra một số đề xuất về việc dạy QN trong các GTDTV. Vấn đề dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ 1. Khái niệm ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ Ngôn ngữ thứ nhất (ñrst language) là “ởiếng mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ được thụ đắc đâu tiên của mỗi người. Trong những cộng đông đa ngôn ngữ, trẻ em có thể dần chuyển đổi việc sử dụng ngôn ngữ chính yếu của mình từ ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác vì sự chỉ phối của ngôn ngữ trong nhà trường, khi đó, ngôn ngữ thứ nhất sẽ là ngôn ngữ mà trẻ em cảm thấy thoải mái nhất trong việc sử dụng.
Thuật ngữ này thường được xem là đồng nghĩa với bản ngữ (native language)” (Richard, J.221) Trong Tir dién khdi niém ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Thiện Giáp (2016) cũng cho rằng: “Ngôn ngữ thứ nhất là ngôn ngữ mà người ta thụ đắc đâu tiên từ khi còn nhỏ là đứa trẻ sơ sinh. Ngôn ngữ thứ nhất thường là tiếng mẹ đẻ, nhưng cũng có khi không phải là tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn, trường hợp trẻ con bồ mẹ là người Việt, được sinh ra ở Mĩ, ngôn ngữ đầu ên được học lại là tiếng Anh. Ngôn ngữ thứ nhất thường được gọi là bản ngữ (native language). Nói cụ thể hơn, đây là ngôn ngữ con người nắm được một cách tự nhiên ngay từ thuở nhỏ khi mới học nói, thông qua sự tiếp xúc với các thành viên của cộng đồng mà mình là thành viên ngôn ngữ, không thông qua trường lớp chính thức như ngoại ngữ hay ngôn ngữ thứ hai Nhưng tình trạng sống đan xen giữa các dân tộc, tình trạng kết hôn khác thành phần dân tộc ngày càng phát triển khiến cho khái niệm bản ngữ cần được xác định lại.
UNESCO quan niệm bản ngữ là ngôn ngữ mà con người học được trong những năm đầu của đời mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên, bản ngữ không nhất thiết phải là thứ tiếng, mà cha mẹ đứa trẻ dùng, cũng không cần phải là ngôn ngữ đầu tiên mà đứa trẻ học để nói bởi vì có những hoàn cảnh đặc biệt làm cho nó vào một buổi sớm đã bỏ một phần hay hoàn toàn ngôn ngữ đó (Nguyễn Thiện Giáp, 2016). Trước đây, người ta thường đồng nhất ngôn ngữ thứ hai (second language) với ngoại ngữ (foreign language). Hiện nay, nhằm nghiên cứu về việc dạy học ngoại ngữ, người ta thấy cần phân biệt ngôn ngữ thứ hai với ngoại ngữ. Ngôn ngữ thứ hai (second language), theo nghĩa rộng, là “mộ ngôn ngữ bắt kì được học sau khi người học đã tiếp thu bản ngữ của họ.
Tuy nhiên, để phân biệt với ngoại ngữ (foreign language), khái niệm này có nội hàm hẹp hơn, dùng để chỉ một ngôn ngữ giữ vai trò chủ chốt trong một quốc gia, vùng lãnh thổ nhất định, mặc dù nó không phải là ngôn ngữ thứ nhất của những người sử dụng nó”. Còn ngoại ngữ (foreign language) là “nội ngôn ngữ không phái là bản ngữ (native language) của những quốc gia, vùng lãnh thổ nhất định, không được sử dụng làm phương tiện giảng dạy trong nhà trường và cũng không được sử dụng như là phương tiện giao tiếp rộng rãi, phổ biến của chính phú và truyền thông. Ngoại ngữ vẻ cơ bản được giảng dạy như một môn hoc trong nhà trường với mục tiêu giao tiếp quốc tế và đọc những ấn phẩm được in ấn bằng chính ngôn ngữ đó” (Richard, J., 2010, tr225), Nguyễn Thiện Giáp (2016) cũng cho rằng nên xem ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ là hai khái niệm riêng biệt. Theo tác giả, ngôn ngữ thứ hai là “bát cứ ngôn ngữ nào khác sau ngôn ngữ thứ nhất.
Ngoại ngữ cũng là ngôn ngữ thứ hai nhưng nó khác ở chỗ ngôn ngữ được học có mặt ở đâu: nếu nó diễn ra cả bên trong lẫn bên ngoài lớp học thì đó không phải là ngoại ngữ; nếu nó chỉ diễn ra bên trong lớp học, ngoài lớp học là môi trường ngôn ngữ khác thì đó là ngoại ngữ. Với quan niệm như trên, tiếng Liệt đối với con em các dân tộc Ít người ở Việt Nam là ngôn ngữ thứ hai chứ không phải ngoại ngữ, thậm chí tiếng Việt dạy cho người nước ngoài ở Việt Nam cũng là ngôn ngữ thứ hai. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm ngoại ngữ (dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ) nhằm mục đích bao quát việc sử dụng các GTDTV. cho người nước ngoài có thể không sống ở Việt Nam.
Vấn đề thụ đắc ngôn ngữ Thụ đắc ngôn ngữ (language acquisition) là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học có tính liên ngành giữa ngôn ngữ học và tâm lý học. Có nhiều cách giải thích khác nhau về quá trình thụ đắc ngôn ngữ, nhưng có ảnh hưởng sâu rộng nhất là các lý thuyết Hành vi luận, Bẩm sinh luận và Tri nhận luận Thứ nhất là #!ảnh vi luận hay chủ nghĩa hành vi (Behaviourism) Khuynh hướng lý thuyết này gắn với nhà nghiên cứu B. Skinner (1957) — nhà tâm lí học Mỹ. Nó để cao vai trò của môi trường trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ.
Theo chủ nghĩa hành vi, môi trường tạo ra những nhân tố kích thích, tác động vào người tiếp nhận để hình thành phản ứng. Hoạt động này được lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành thói quen, kinh nghiệm, tạo cơ sở cho sự thụ đắc ngôn ngữ. Để tạo điều kiện cho sự thụ đắc ngôn ngữ, việc dạy và học ngôn ngữ cần phải thông qua thực hành, tăng cường các bài tập thực hành (Skinner, 1957) Thứ hai là Bẩm sinh luận hay giá thuyết bẩm sinh (Innateness Hypothesis). Khuynh hướng này được Noam Chomsky, nhà ngôn ngữ học Mỹ, đề xuất.
Ông cho rằng lý thuyết về ngôn ngữ của trường phái hành vi mà những đại diện là B. Bloomiield quá hạn hẹp chỉ chú trọng việc miêu tả những câu nói đã thực sự xảy ra mà không cắt nghĩa được bản chất sáng tạo của ngôn ngữ cá nhân. Chomsky (1965) cho rằng ngôn ngữ được hình thành có tính chất bẩm sinh, nhờ vào một bộ phận có tính sinh học trong bộ não. Hay nói cách khác, ông nhấn mạnh vai trò của năng lực bẩm sinh nội tại và khả năng sáng tạo của chủ thể.
Theo Chomsky, con người ngay 10 từ khi sinh ra đã tiềm ẩn một quan năng/bộ ngữ pháp (Language faculty), nơi lưu trữ những tri thức »gữ pháp phổ quát (Universal Grammar). Dựa trên khuynh hướng lý thuyết này, chính hệ thống ngữ pháp cé tinh bam sinh và phô quát ở mỗi người làm cơ sở cho quá trình thụ đắc ngôn ngữ. Nhờ đó đứa trẻ có thể thụ đắc tiếng mẹ đẻ một cách dễ dàng, nhanh chóng mà không cần phải học một cách bài bản. Ngữ pháp tạo sinh, được Chomsky xây dựng, là lý thuyết về năng lực bẩm sinh ngôn ngữ của người nói.
Các nguyên lý của ngữ pháp tạo sinh không thể nào thụ đắc thông qua kinh nghiệm và rèn luyện. Nếu coi ngôn ngữ được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm và rèn luyện thì sẽ không thể giải thích được nhiều khía cạnh sâu xa của nó, nên phải tìm cách giải thích dựa trên cái cấu tạo trí tuệ có tính bẩm sinh, cái cấu tạo đó có tầm quan trọng vô cùng lớn mà ngôn ngữ học và tâm lý học phải nghiên cứu và xác định cho được tính chất của nó (Chomsky, 1975). Thứ ba là 7⁄2 nhận luận hay nhận thức luận (Epistemology). Khuynh hướng lý thuyết này được hình thành chủ yếu trên cơ sở lý thuyết cua J.
Piaget, nhà tâm lý học Thụy Sĩ. Nó nhấn mạnh vai trò của tư duy, tư duy quyết định sự hình thành và phát triển ngôn ngữ (với sự tương tác của môi trường). Tư duy nhận thức môi trường (thế giới xung quanh) hình thành khái niệm, từ đó hình thành ngôn ngữ. Tuy nhiên, khuynh hướng lý thuyết này không coi môi trường quyết định quá trình thụ đắc ngôn ngữ như quan điểm của Hành vi luận mà chỉ là nhân tố cung cấp ngữ cảnh cho hoạt động học tập.
Nó cho rằng chính khả năng tư duy là cơ sở cho sự thụ đắc ngôn ngữ (Piaget, 1926) Các lý thuyết giải thích quá trình thụ đắc ngôn ngữ vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Tuy vậy, qua những gì quan sát được, nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng mọi đứa trẻ bình thường trên thế giới đều thụ đắc ngôn ngữ theo trình tự như sau: trong những năm đầu đời, đứa trẻ thụ đắc ngôn ngữ rất nhanh, học được nhiều điều trong một khoảng thời gian ngắn, hệ thống ngữ 1I pháp mà trẻ em học được khá hoàn thiện, nhưng đó không phải là những quy tắc mà người lớn thường dạy, chúng thụ đắc ngôn ngữ mà không cần đến việc dạy học trực tiếp. Bàn về quá trình thụ đắc bản ngữ và thụ đắc ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ, có những quan niệm trái chiều nhau: Đại diện tiêu biểu cho quan niệm quá trình thụ đắc bản ngữ và thụ đắc ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ như nhau là S. Krashen, nhà ngôn ngữ học Mỹ.
Lý thuyết này được đề ra từ những năm 1970, trong đó Krashen kết luận rằng con người có khả năng học (thụ đắc) và không có khác biệt đáng kể nào giữa cách chúng ta học tiếng mẹ đẻ và cách chúng ta học ngoại ngữ.