CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Khái niệm về tục ngữ, ca dao 1. Khái niệm tục ngữ Tục ngữ thường được hiểu là một loại hình văn học dân gian, ra đời từ rất sớm, nhằm đúc kết những kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực đời sống của cha ông ta dưới dạng những câu nói và được lưu giữ, phổ biến qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, để có được một định nghĩa chính xác và nhất quán về tục ngữ lại không hoàn toàn đơn giản.
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Tục ngữ "Một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền. Ví dụ: Tre già măng mọc, Nói ngọt lọt tận xương, Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ, Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Về nội dung, tục ngữ là kho kinh nghiệm và tri thức thực tiễn vô cùng phong phú và quý giá của nhân dân. Không một lĩnh vực nào của đời sống và cuộc đấu tranh sinh tồn của nhân dân mà tục ngữ không nói tới.
Về cấu trúc ngôn từ, tục ngữ chủ yếu được làm theo hình thức những câu ngắn có vần hoặc không vần (đa số là loại câu từ bốn đến mười tiếng). Nhưng cũng có một bộ phận tục ngữ được làm theo hình thức câu dài gồm hai, ba vế (từ mười tiếng trở lên, có khi trên 20 tiếng). Ví dụ: Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ; hoặc: Lươn ngắn lại chê chạch dài; Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm. Nhưng dù ngắn hay dài thì mỗi đơn vị tục ngữ cũng đều được gọi là "câu" (chứ không gọi là "bài").
13 z Có một bộ phận những câu mang tính chất nhập nhằng, "lưỡng tính" vừa gần với tục ngữ, vừa gần với ca dao. Ví dụ: - Tin bợm mất bò Tin bạn mất vợ nằm co một mình. - Ở sao cho vừa lòng người Ở rộng người cười, ở hẹp người chê. Việc xác định đặc trưng thể loại của những câu như vậy nói chung là khó.
Nhưng nếu đặt chúng vào những trường hợp sử dụng cụ thể của nhân dân thì vẫn có căn cứ để xác định được. Khi chúng được ngâm hát lên để thổ lộ tâm tình của người sử dụng, thì chúng được coi là ca dao, còn khi chúng được nói tới để nêu lên một kinh nghiệm, một nhận xét, lí trí, khách quan, thì chúng là tục ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học cũng đã đưa ra các ý kiến xung quanh vấn đề này. Chúng ta có thể thấy một số ý kiến tiêu biểu sau: 1.
Quan điểm của các nhà nghiên cứu văn học: Lần đầu tiên khái niệm tục ngữ được giải thích rõ trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, quyển 1 của Dương Quảng Hàm như sau: "Tục ngữ (tục: thói quen đã có từ lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành tự đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi. Tục ngữ còn gọi là ngạn ngữ vì chữ ngạn ngữ là lời nói của người xưa truyền lại" [16, 6]. Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam nêu: "Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán. Các tác giả Nguyễn Nghĩa Dân và Lý Hữu Tần lại đưa ra định nghĩa về tục ngữ trong cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam ( tập 1) như sau: "Tục ngữ là câu nói thường ngắn gọn có vần hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặc 14 z không có nhịp điệu đúc kết kinh nghiệm sản xuất hoặc đấu tranh xã hội, rút ra một chân lý phổ biến, ghi lại một nhận xét về tâm lý, phong tục tập quán của nhân dân.
Tục ngữ do nhân dân sáng tác và được toàn thể xã hội công nhận" [35, 275]. Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam, các tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên cho rằng: "Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ" [24, 244]. Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong Văn học dân gian - Những công trình nghiên cứu đưa ra ý kiến rằng: "Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày. Trong Văn học dân gian Việt Nam, Hoàng Tiến Tựu viết: "Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền.
Nhìn chung, chúng ta có thể thấy các quan điểm về tục ngữ trên đây đều có điểm chung đó là, về mặt hình thức, tục ngữ được xem là một câu; về mặt nội dung, tục ngữ phản ánh những kinh nghiệm, tri thức dân gian. Quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Không chỉ trong lĩnh vực văn học mà cả trong ngôn ngữ học, tục ngữ cũng được nhiều người quan tâm, nghiên cứu. Sau đây là một số ý kiến của các nhà ngôn ngữ học khi bàn về vấn đề tục ngữ: 15 z Trong bài Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ, Cù Đình Tú dựa vào tiêu chí chức năng, cho rằng: "Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo. Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan.
Do vậy mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng. Đó cũng là lý do giải thích tục ngữ có cấu tạo là các kết cấu hai trung tâm. Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt lại dựa trên tiêu chí ngữ nghĩa, chỉ ra ".Nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về một chân lý nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh. Cũng dựa trên tiêu chí cấu trúc, ngữ nghĩa, tác giả Hoàng Văn Hành đã nhận định trong bài Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học: "Khi nói tục ngữ là những câu - thông điệp nghệ thuật - là cùng một lúc chúng ta nhấn mạnh hai đặc trưng bản chất, không tách rời nhau của nó: một là, tục ngữ là câu, nhưng là câu đặc biệt, khác với mọi câu nói thông thường ở tư cách là làm thông điệp nghệ thuật.
Dưới góc độ thi pháp học, Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Tục ngữ Việt Nam - Cấu trúc và thi pháp lại quan niệm tục ngữ: "là những phát ngôn đặc biệt - hình thành từ trong lời thoại hàng ngày, nhưng tồn tại như một đơn vị ngôn ngữ,. có cơ cấu ngữ nghĩa cú pháp đa dạng, có khuôn hình cố định, làm cơ sở cho sự tái hiện, lưu giữ và sản sinh những kiểu nói tục ngữ" [22, 72]. Còn tác giả Nguyễn Thiện Giáp, khi bàn về tục ngữ đã chỉ ra rằng: "Các tục ngữ cũng được dùng lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói như một đơn vị có sẵn; nhưng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán. Về mặt nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi 16 z vì nó không biểu thị một khái niệm như thành ngữ, mà biểu thị một tổ hợp khái niệm" [15, 80].
Như vậy, quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, khi bàn về tục ngữ, do dựa trên những tiêu chí khác nhau để nhận diện nên cũng đã có sự không giống nhau. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể thấy được những điểm cơ bản, đó là tục ngữ được coi là những câu, có cấu tạo cố định, thể hiện một phán đoán và có chức năng thông báo. Khái niệm về ca dao Thuật ngữ ca dao được sử dụng khá phổ biến, tuy nhiên khi bàn về khái niệm của nó, cũng giống như tục ngữ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Ca dao "Còn gọi là phong dao.
Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ chung chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca.
Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, ca dao đã dần dần chuyển nghĩa. Từ một thế kỉ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chia riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi). Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống. Ví dụ câu ca dao: Làm trai quyết chí tu thân Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.
17 z vốn được rút ra từ bài dân ca hát cách với những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi như sau: Làm trai quyết chí (mà) tu (ý) thân. Còn quan điểm của các nhà nghiên cứu như sau: Dương Quảng Hàm đã đưa ra định nghĩa về ca dao trong Việt Nam văn học sử yếu như sau: “Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa. Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam chỉ ra rằng: “Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể bè thành những làn điệu dân ca…” [24, 436].
Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (tập 1), Vũ Ngọc Phan nêu ý kiến cho rằng: “Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác. Cũng như tục ngữ, ca dao không rõ tác giả là ai, được lưu truyền bằng miệng và cũng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân” [38, 140].