CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về uyển ngữ Trước tiên, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về khái niệm uyển ngữ trong tiếng Việt. Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2005) đưa ra khái niệm: “Uyển ngữ là phương thức nói nhẹ đi thay cho cách nói bị coi là sỗ sàng, làm xúc phạm, làm khó chịu.” Tiếp theo trong Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ đã định nghĩa: “Uyển ngữ là phép chuyển nghĩa được thể hiện bằng việc biểu thị một sự vật hoặc hiện tượng nào đó qua cách thể hiện kín đáo, gián tiếp, lịch sự, mềm mỏng”. (Nguyễn Như Ý, 1997) Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2011) “Uyển ngữ là phương thức nói giảm, không dùng lối diễn đạt trực tiếp mà dùng hình thức diễn đạt nhẹ nhàng hơn, mềm mại hơn do những nguyên nhân về mặt ngữ dụng học”.
Đinh Trọng Lạc (1994) định nghĩa rằng: “Uyển ngữ thuộc nhóm hoán dụ, là hình ảnh tu từ trong đó người ta thay tên một đối tượng (hoặc một hiện tượng) bằng sự miêu tả những dấu hiệu cơ bản của nó, hoặc bằng việc nêu lên những nét đặc biệt của nó.” Trong khi đó, Trương Viên (2003) lại định nghĩa: “Uyển ngữ là một ngữ cố định, một hành động lời nói, một biện pháp tu từ, được sử dụng trong tình huống, hay văn bản giao tiếp lịch sự, sang trọng đầy tri thức văn hóa, liên quan đến cái đẹp trong việc dùng từ ngữ”. Trong Tiếng Hàn, một số nhà ngôn ngữ học đã đưa ra khái niệm về uyển ngữ như sau: Theo tác giả Im Ji Ryong (1992), “Ở nền văn hóa nào trên thế gới đều có ngôn ngữ cấm kị, người ta tránh những biểu hiện trực tiếp khi nói đến sự chết chóc, bệnh tật, hay các chủ đề nhạy cảm như giới tính bằng cách dùng uyển ngữ thay thế để làm giảm đi nỗi sợ hãi hay sự ngại ngùng.” Đối với Kim Gwang Hae (1993) “Uyển ngữ được hình thành để thay thế những biểu hiện khó nói như tên gọi một số bộ phận cơ thể, hành vi giới tính, hoạt động bài tiết; ngoài ra uyển ngữ được hình thành từ tính cần thiết khi phải đề cập đến một số vấn đề nhạy cảm xảy ra trong cuộc sống như chết chóc, bệnh tật.” 4 Lee Jong Neung (2003) “Uyển ngữ là sự thay thế bằng một từ khác, hoặc sử dụng bằng cách diễn đạt nhẹ nhàng, nhằm tránh gợi lên cảm giác khó chịu .” Ngoài ra, Kim My Hyeong (2000) trong Nghiên cứu tâm lý ngôn ngữ và đặc thù biểu hiện của uyển ngữ cho rằng: “Uyển ngữ là cách diễn đạt ngôn ngữ uyển chuyển khi nói, viết” Jeon Ji Yeon (2013) “Uyển ngữ là cách giữ thể diện cho người nói và người nghe, đồng thời giảm bớt tâm lý khó chịu. Có thể nói đó là cách nói lịch sự hoặc cách diễn đạt lời nói lịch sự.” Tổng hợp tất cả ý kiến từ các nhà nghiên cứu ngôn ngữ của Việt Nam và Hàn Quốc, chúng tôi đưa ra quan điểm riêng về uyển ngữ, làm nền tảng để nghiên cứu đề tài này như sau: Uyển ngữ là cách diễn đạt ngôn từ nhằm tránh nói trực tiếp về những chủ đề cấm kỵ, nhạy cảm, tế nhị, dễ gây phản cảm, khó hiểu nhằm làm giảm đi tính thực tế của vấn đề được đề cập đến và làm cho nội dung lời nói thêm phần lịch sự, đẹp đẽ và nhẹ nhàng hơn. Nguồn gốc của uyển ngữ Theo một số tác giả Việt Nam và Hàn Quốc như: Trần Ngọc Thêm (1996); Nguyễn Đức Tồn (2012), Trần Ngọc Thêm (2002), Park Chong Ho (1998), Chong Eon Seon (2019) những tác giả này đã đưa ra một số cơ sở về nguồn gốc xuất hiện của uyển ngữ.
Từ những kết quả tổng hợp được chúng tôi thấy rằng: uyển ngữ được xuất phát từ nhu cầu xã hội, nhu cầu tâm lý và nhu cầu lịch sự. Từ lâu người Việt Nam đã đúc kết những kinh nghiệm từ lời ăn tiếng nói qua câu ca dao sau: “Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Người Hàn cũng sớm ý thức được tầm quan trọng của lời nói, đề cao vai trò của lời nói trong giao tiếp, luôn chú trọng nói như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong giao tiếp, vì vậy người Hàn đã đúc kết nên câu thành ngữ có nội dung tương tự. “가는 말이 고와야 오는 말이 곱다” (Lời nói đi có hay thì lời nói lại mới đẹp). Nhu cầu của xã hội Ở bất kỳ quốc gia nào, tùy vào đặc điểm về xã hội, tôn giáo, tâm linh, đạo đức sẽ có một số từ không được phép nói trực tiếp nên phải dùng những từ vựng, những cách biểu hiện khác.
Ngôn ngữ là công cụ quan trọng trong xã hội loài người. Khi con người chưa xác định và hiểu rõ sức mạnh của tự nhiên con người ta thường tránh đề cập đến các vấn đề tự nhiên, vì cho rằng đó là thần nên ngại trong việc nhắc đến, và đây chính là lý do xuất hiện từ kiêng kỵ. Trong văn hóa Việt Nam có những điều kiêng kỵ như: kiêng ngày mồng 1 đầu năm, đầu tháng,…Đặc biệt trong tiếng Việt hay gặp nhất là kiêng húy có nghĩa là tránh nói và viết tên người. Tập tục này có những điểm phù hợp với tâm lý ứng xử của người Việt.
Bên cạnh đó, người Việt cũng chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo, nên phong tục kiêng húy đã trở thành một phong tục tập quán của người Việt. (Tạp chí văn thư lưu trữ Việt Nam, tr. Trong tiểu thuyết “Lều chõng” của Ngô Tất Tố, thí sinh Đào Vân Hạc học rất giỏi thi đỗ Hội nguyên nhưng vì phạm húy trong kì thi Đình nên bị giam hai ngày và bị truất khoa cử. Chuyện “phạm húy” này có khi chỉ là chuyện “dùng phải những chữ trùng với tên lăng, tên điện của nhà vua”.
Trong tác phẩm có câu nói của ông chủ nhà trọ khi nghe các thí sinh giải thích về “phạm húy”: “-Thôi! Tôi xin lạy cả nón. Phúc tổ nhà tôi, làm sao lúc học dốt quá, đành phải bỏ học đi cày. Nếu như tôi sáng dạ một chút, mà cố theo đuổi để được cắp quyển vào trường với các ngài, thì chắc suốt đời bị tội”. Qua câu chuyện này ta có thể thấy được nhà nước phong kiến lúc bấy giờ cực kỳ ích kỷ, rẻ rúng thậm chí thủ tiêu tài năng người khác chỉ vì những lý do không đâu.
Theo sử sách nước ta thì lệnh kiêng húy sớm nhất có ở đời Trần, cụ thể là thời vua Trần Thái Tông năm 1232. Nhà Trần lệnh những ai mang họ Lý phải đổi sang tên họ khác. Do ông tổ nhà Trần tên Trần Lý nên ai mang tên này, họ này là “phạm húy”. Có lẽ đây chỉ là cái cớ, sâu xa hơn, nhà Trần không muốn để một ai trong họ Lý nuối tiếc quá khứ mà có tư tưởng làm phản.
Đến thời vua Lê Thái tổ lệnh kiêng húy được đưa vào “luật” và phổ Commented [A1]: ??? biến rộng rãi với các loại húy là quốc húy, tên húy, gia tộc húy và dân gian húy. Quốc húy là kiêng tên vua. Thời Lê Trung hưng do kiêng tên vua Lê Trang Tông là Lê Ninh, nên các địa danh có chữ Ninh đều phải đổi (huyện Vĩnh Ninh đổi thành Vĩnh Phúc, tức huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa nay). Vua Lê Thế Tông tên thật là Duy Đàm, nên huyện Thanh Đàm phải đổi thành Thanh Trì gần nghĩa nhau (“trì” là cái ao, “đàm” là cái đầm).
Vua Lê Chân Tông tên là Duy Hựu, nên huyện Thuần Hựu phải đổi thành Thuần Lộc, nay là huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa. (Báo Công an nhân dân, Nguyễn Thanh Tú) 6 Ví dụ: Trong tiếng Việt, “hoàng” đổi thành “huỳnh”; “phúc” đổi thành “phước”, “chu” đổi thành “châu”. Trong tiếng Hàn, cũng có hiện tượng tương tự, ví dụ: “왕: vương, 황제: hoàng đế” đổi thành “임금:đức vua, 군왕:quân vương, 폐하:bệ hạ” Ngoài kiêng tên húy, người Việt Nam và người Hàn còn kiêng gọi tên một số động vật. Ví dụ: Trong tiếng Việt, không gọi “hổ” thay vào đó bằng “beo” hay “ông ba mươi” Trong tiếng Hàn, kiêng nhắc đến một số loài động vật hung dữ như hổ, rắn.
Vì người ta nghĩ rằng, muông thú cũng có linh tính như con người, nên đi săn tránh đề cập đến. Ví dụ: Một số cách gọi khác của từ “호랑이: hổ” bằng “산신령: thần núi”, “산손님: khách núi”. Một số cách gọi khác của từ “뱀: rắn” là “용님: rồng”. Theo Trần Thị Vân Yên (2009), vào thời kỳ đầu vì nhận thức về mọi vấn đề còn lạc hậu, con người luôn cho rằng thiên tai, chết chóc, bệnh tật là do thần linh trừng phạt.
Chính vì vậy, trong cuộc sống thường kiêng không nhắc đến những điều không may, những điều không tốt hay các thế lực siêu nhiên. Mang tâm thế luôn hướng vào những điều tốt, tránh xa những cái xấu đã tạo nên những từ ngữ kiêng kỵ, mềm mại, dễ nghe. Ngoài ra, trong tiếng Hàn còn có uyển ngữ hình thành đặt tên cho một số bệnh dân gian. Ví dụ: Một số cách nói bệnh đậu mùa của người Hàn 천연두: thiên nhiên đậu 마마 : người phụ nữ lớn tuổi 큰 손님: vị khách lớn 7 1.
Nhu cầu tâm lý Theo Chong Eon Seon (2019), trong giao tiếp có nhiều từ ngữ nhạy cảm, mang tính xóc xỉa, châm chọc vì vậy để tránh làm mất hòa khí, mối quan hệ thì người nói nên lựa lời, nói giảm, nói tránh để đối phương cảm thấy dễ chịu hơn. Chính vì lẽ đó, uyển ngữ được ra đời, giúp chúng ta giao tiếp được mượt mà, mềm mại, nhẹ nhàng hơn, giúp giữ thể diện cho người nghe, và thể hiện bản thân là người có văn hóa. Ví dụ: Trong tiếng Việt gọi “bệnh xã hội” thay cho những bệnh như: “bệnh giang mai, bệnh lậu” đây là những bệnh liên quan đến hành vi quan hệ tình dục không an toàn. Chết là một hiện tượng tự nhiên bất khả kháng, không ai có thể tránh được.
Nhưng mọi người đối với cái chết vẫn có cảm giác sự hãi, chết vẫn là nỗi trăn trở của mọi thế hệ con người. (Nguyễn Thị Lan Hinh, 2004) Chính vì cái cảm giác khó tả, vì dự cảm về sự ra đi lần cuối ấy mà ở trong tiếng Việt và tiếng Hàn tồn tại một lượng lớn uyển ngữ dùng để thay thế nó như : Trong tiếng Việt “trăm tuổi, tạ thế, từ trần, băng hà…” thay cho “chết”. Trong tiếng Hàn “하나님을 만나다: gặp chúa, 황천에 가다: xuống hoàng tuyền, 하늘의 부르심을 받다: theo tiếng gọi của Chúa…” thay cho “죽다: chết” Ở tiếng Việt và tiếng Hàn tùy vào đối tượng, chức vụ, địa vị, tôn giáo mà khi nói về cái chết thường có nhiều cách gọi khác nhau.