CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LY THUYET CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt 1. Tình hình nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt ở Việt Nam Cho đến hiện nay, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt ở Việt Nam và dưới đây là những công trình nghiên cứu nỗi tiếng quen thuộc và có uy tín cao mà chúng tôi căn cứ vào đó đê làm cơ sở so sánh-đôi chiêu. Nghiên cứu hệ thống ngữ âm trong phương ngữ Trung Có thé nói, phương ngữ Trung là nhóm phương ngữ bảo lưu được rất nhiều nét đặc trưng trong tiếng Việt nhiều hơn so với phương ngữ khác.
Sau đây là các công trình nghiên cứu tiêu biểu về hệ thống ngữ âm tiếng Việt trong phương ngữ Trung: “Phương ngữ học tiếng Việt” của Hoàng Thị Châu (2008) là công trình nghiên cứu miêu tả về hệ thống ngữ âm của ba phương ngữ lớn ở Việt Nam. Có thé nói, đây là công trình có giá tri cao trong lĩnh vực phương ngữ học của Việt Nam. Theo tác giả, phương ngữ là một ngành nghiên cứu những đặc điểm tương đồng và khác biệt của một ngôn ngữ mà được coi là ngôn ngữ toàn dân được thé hiện một địa phương khác nhau. Sự khác nhau đó tạo nên các biến thé dé thê hiện đặc trưng riêng.
Ngoài miêu tả cụ thể về hệ thống ngữ âm của ba vùng phương ngữ: Bắc, Trung, Nam, tác giả còn có nhận xét về đặc điểm ngữ âm của từng phương ngữ. Đối với phương ngữ Trung, Hoàng Thị Châu (2008) cho răng: Hệ thống ngữ âm phương ngữ Trung bảo lưu được rất nhiều đặc điểm cô trong tiếng Việt từ thế kỷ XV và XVII. Chang hạn như “Phụ âm /p”/ là một âm vị cỗ xưa trong tiếng Việt được người dân vùng Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên lưu giữ nhưng thế hệ mới có xu hướng phát âm biến thành âm /f/” [4, tr. Đồng thời, Phương ngữ Trung còn bảo lưu được 21 các vần có cách phát âm tương đối cô trong tiếng Việt như [-en, -ek] (êng, êc), [-en, -ek] (eng, éc), [-on, -ok] (ôông, ôôc), [-or, -ok] (oong, ooc) [4, tr.
Tuy nhiên, các đặc trưng trong các phương ngữ đang đối mặt với ảnh hưởng từ ngôn ngữ toàn dân thông qua các kênh giao tiếp như ngôn ngữ truyền thông cũng như ngôn ngữ văn học. Những yếu tổ này có tác động rất lớn và dẫn đến quá trình biến mất của nhiều đặc điểm trong các phương ngữ. Kế tiếp công trình nghiên cứu về phương ngữ Trung của Hoàng Thị Châu là công trình nghiên cứu của Võ Xuân Trang (1997) “Phương ngữ Bình Trị Thiên ”. Đây là công trình nghiên cứu về đặc điểm ngữ âm trong phương ngữ Bình Trị Thiên (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).
Theo tác giả, phương ngữ Bình Trị Thiên là một nhóm phương ngữ bảo lưu được nhiều nét đặc trưng cổ trong tiếng Việt. Vì vậy, công trình nghiên cứu này là công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về phương ngữ Binh Trị Thiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy: các thé ngữ Binh Trị Thiên xuất hiện 19 phụ âm đầu': /t, s, 4 b, m, v, t, đ, n, s, 1, {, c, k, x, n, y, h, 2/, trong đó có 7 phụ âm đầu không xuất hiện trong hệ thống phụ âm dau tiếng Việt toàn dân: /j, tl, b', d’, c!, k', p/. Sự xuất hiện của phụ âm đầu /j/ làm biến mat phụ âm dau /p/.
Đối với phần vần trong phương ngữ Bình Trị Thiên xuất hiện 183 vần, trong đó có 35 vần không xuất hiện trong hệ thống vần của tiếng Việt toàn dân. Do sự xuất hiện của nhiều nguyên âm dẫn đến khả năng kết hợp tạo thành phần vần, cho nên số lượng phần vần trong phương ngữ Bình Trị Thiên nhiều hơn so với tiếng Việt toàn dân. Đối với thanh điệu, trong phương ngữ này chỉ xuất hiện 5 thanh điệu: thanh ngang, thanh huyền, thanh sắc, thanh nặng và thanh hỏi. Tuy nhiên, một số thổ ngữ thậm chí chỉ xuất hiện 4 thanh điệu.
Những đặc điểm này tạo thành nét đặc trưng riêng biệt cho phương ngữ Trung nói chung và phương ngữ Bình Trị Thiên nói riêng. Đối với công trình nghiên cứu này của Võ Xuân Trang không chỉ miêu tả đặc điểm ngữ âm chung của phương ngữ Binh Trị Thiên mà còn miêu tả đặc điểm ngữ âm của một số thổ ngữ. Sau đó so sánh-đối chiếu nội bộ dé nhận xét và đưa ra kết luận như đã nêu trên, giúp tao nên điểm rõ nét cho đặc điểm của hệ thống ngữ âm trong phương ngữ Bình Trị Thiên. 1 Các kí tự ngữ âm ở đây được trích dẫn nguyên văn của tác giả 22 Ngoài hai công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác về phương ngữ Trung, chăng hạn như: - Andrea Hoa Phạm (2005) nghiên cứu về hệ thống thanh điệu tiếng Nghi Lộc với đề tài “Vietnamese tonal system in Nghỉ Loc dialect - A preliminary report”.
- Trần Hương Thục (2015) nghiên cứu về hệ thống và đặc điểm của thanh điệu trong thổ ngữ Cuong Gian với dé tài “Miêu ta hệ thong thanh điệu thé ngữ Cương Gián (Hà Tinh) dựa trên các kết quả phân tích bằng phan mém máy tinh” - Nguyén Thi Lé Hang (2018) thực hiện nghiên cứu về đặc điểm ngữ âm tiếng Lộc Hà trong luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đề tài “Ngữ âm tiếng Lộc Hà- Hà Tĩnh `. Các công trình nghiên cứu này là những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học cao và làm rõ thực trạng, nét đặc trưng của phương ngữ Trung. Đặc điểm chung của các công trình nghiên cứu đã nêu trên là sử dụng phương pháp nghiên cứu ngữ âm học khí cụ dé miêu tả hệ thống ngữ âm cụ thé là hệ thống thanh điệu tại các địa phương vùng Bắc Trung Bộ. Các tiêu chí khu biệt đặc điểm của thanh điệu bao gồm đường nét (F0), âm vực và thức tạo thanh (chất giọng).
Đối với tiêu chí thức tạo thanh (chất giọng) là tiêu chí được nhận diện băng các chương trình phân tích âm thanh như Pratt, Speech Analyze, Cecil, v. Tiêu chi nay giúp khu biệt va chỉ ra rõ đặc điểm của các thanh điệu trong tiếng Việt. Nghiên cứu hệ thong ngữ âm trong phương ngữ Bac Nếu phương ngữ Trung là nhóm phương ngữ mang tính bảo lưu nhiều nét đặc trưng cổ trong tiếng Việt thì phương ngữ Bắc lại mang đặc tính phổ biến và hiện đại, thậm chí có thể coi là ngôn ngữ toàn dân. Ta có thể thấy diện mạo của hệ thống ngữ 4m trong phương ngữ Bắc trong cuốn sách Ngữ âm tiếng Việt của Doan Thiện Thuật, tuy công trình này không dành riêng cho việc khảo luận riêng về 23 phương ngữ Bắc bằng các phương pháp và nguyên tắc của phương ngữ học.
Điều này, chúng tôi đã phân tích và trình bày trong mục nói về đối tượng nghiên cứu của luận án ở phần mở đầu. Trong cuốn sách của mình, Đoàn Thiện Thuật (2016) đã miêu tả hệ thống ngữ âm tiếng Việt gồm phụ âm đầu, vần và thanh điệu. Đồng thời tác giả còn bàn luận và nhận xét về chữ Quốc ngữ và vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, tiếng Việt (Tiếng Việt toàn dân) có 22 phụ âm đầu, bao gồm: /b, m, f, v, t",t, d,n,s, z, 1, t 8, % C, J, k, 0, x, y, ?, h/, trong đó phương ngữ Bac có 19 phụ âm đầu: /b, m, f, v, t, t, d, n, s, z, 1,c, p, k, n, x, y, ?, h/, không có các phụ âm quặt lưỡi /{, s, z/.
Về phan van, tác giả miêu tả các các nguyên âm và chia chúng thành 2 nhóm: nguyên âm đơn: /1, e, e, š, W, ¥, š, a, ă, u, 0, 9, 3/ và nguyên âm đôi /ie, wy, uo/. Ngoài ra, phương ngữ Bắc là phương ngữ duy nhất xuất hiện đầy đủ 6 thanh điệu tiếng trong Việt, bao gồm: thanh ngang, thanh huyền, thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc và thanh nặng. Phương ngữ Trung chỉ xuất hiện 5 thanh điệu, cụ thê là trong phương ngữ Trung không xuất hiện thanh ngã. Trịnh Cẩm Lan (2017) là một tác giả nghiên cứu về phương ngữ Hà Nội với công trình nghiên cứu “Tiếng Hà Nội - từ hướng tiếp cận Phương ngữ học xã hội”.
Tác giả cho rằng: phương ngữ Hà Nội tiêu biểu cho phương ngữ Bắc có 19 phụ âm đầu /b, m, f, v, th, t, d,n, s, z, L c, ], k, n, x, y, ?, h/, 13 nguyên âm đơn nguyên âm đơn: /1, e, £, š, W, x, š, a, a, u, o, 2, 3⁄, 3 nguyên âm đôi ie, wy, uo/ va 6 thanh diéu tương tự như kết quả nghiên cứu của Doan Thiện Thuật. Công trình nghiên cứu tiếng Hà Nội của Trịnh Câm Lan là công trình nghiên cứu về phương ngữ Hà Nội mới nhất. Tác giả đã đưa ra phương pháp nghiên cứu về phương ngữ học xã hội. Đồng thời, để miêu tả đặc điểm của phụ âm đầu trong tiếng Hà Nội ngoài tiêu chí phương thức cấu âm và vị trí cấu âm, tác giả còn miêu tả thêm về trường độ của hệ thống phụ âm đầu tiếng Hà Nội bằng cách tính “Gid tri trung bình tuyệt doi” và “Giá trị trung bình tương doi” của từng phụ âm.
Cách tính này giúp nhận diện được trường độ của các phụ âm và trở thành một tiêu chí khu biệt đặc điểm của phụ âm trong tiếng Việt. 24 Hoàng Thị Châu (2008) đã miêu tả hệ thống ngữ âm phương ngữ Hà Nội làm đại diện cho phương ngữ Bắc trong cuén “Phương ngữ học tiếng Việt”. Kết quả miêu tả của Hoàng Thị Châu cũng tương tự như kết quả của Đoàn Thiện Thuật. Theo tác giả: phương ngữ Bắc không xuất hiện phụ âm quặt lưỡi /{, s, z/.
Còn phụ âm /c/ (ch) và /t/ (tr) được phát âm như một phụ âm tắc — xát đầu lưỡi — răng /{Ƒ. Về phần van, trong phương ngữ Bac không xuất hiện van [-ưw] và [-ươw] ma biến thành van [-iw] và [-iew]. Về thanh điệu, phương ngữ Bac có day đủ 6 thanh điệu trong tiếng Việt. Ngoài miêu tả về hệ thống ngữ âm của phương ngữ Hà Nội làm đại diện cho phương Bắc, tác giả còn bình luận về một số biến thể đáng quan tâm, trong đó là biến thé của phụ âm /c/ biến thành tắc-xát /{{/.
Van dé này không chỉ Hoàng Thi Châu đã đề cập mà Đoàn Thiện Thuật cũng đề cập đến. Đây là một biến thé xuất hiện trong giới thanh niên và trở nên phổ biến hơn.