Chương 1: Cơ sở lí luận Trình bày những vấn đề lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu của luận văn. Bên cạnh đó giới thiệu những nét khái quát về tiếng Hán, phương ngữ Hán liên quan đến người Hoa ở Việt Nam. Chương 2: Trạng thái song ngữ Việt - Hoa của cộng đồng người Hoa ở Quận 5 - TP. HCM Giới thiệu khái quát về cộng đồng người Hoa ở quận Quận 5, TP.
Đánh giá năng lực, thái độ lựa chọn ngôn ngữ của người Hoa trên cơ sở khảo sát đặc điểm giao tiếp bằng phiếu điều tra Chương 3: Tình hình giáo dục tiếng Hoa với tư cách là tiếng mẹ đẻ tại cộng đồng người Hoa ở Quận 5 - TP. HCM Lịch sử giáo dục tiếng Hoa của người Hoa ở Quận 5, TP. Năng lực ngôn ngữ của học sinh, thái độ ngôn ngữ của học sinh trong nhà trường. 10 CHUONG 1:CO SỞ LÍ LUẬN 1.
Những nét khái quát về hiện tượng song ngữ 1. Song ngữ xã hội Xã hội ngày càng phát triển, vách ngăn khoảng cách địa lý ngày càng mờ nhạt, thế giới ngày càng tương thông. Thấu hiểu ngôn ngữ cũng là một trong những lý do khiến cho người ở quốc gia, dân tộc này gần gũi hơn với người ở quốc gia, dân tộc khác. Từ giữa thế kỷ XX trở về trước, ngôn ngữ học truyền thống gọi hiện tượng một người, một cá nhân ngoài biết điếng mẹ đẻ còn biết thêm một thứ tiếng của dân tộc hay quốc gia khác là người song ngữ.
Vậy nên khái niệm song ngữ xã hội vừa dùng để chỉ hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ của người song ngữ vừa dùng để chỉ hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ để giao tiếp trong xã hội. Cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, cục diện chính trị thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, cộng thêm sự ra đời của Internet nên một người ở quốc gia, dân tộc nay dé dang hoc, sir dung ngôn ngữ của một quốc gia dân tộc khác. Theo thời gian, số người không chỉ biết thêm một mà nhiều ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ ngày càng tăng. Từ đó nảy sinh khái niệm “đa ngữ” và “người đa ngữ”.
Tuy nhiên theo Nguyễn 'Văn Khang [40, tr.113] ngay cả trước kia, khi sử dụng thuật ngữ “song ngữ” cũng đã bao hàm cả “đa ngữ” trong đó. Trong luận văn này chúng tôi chọn cách gọi “song ngữ” và song không chỉ có nghĩa là hai mà có thể là hơn hai Như trên vừa trình bày thì ba khái niệm tiéng me dé, người song ngữ và hiện tượng song ngữ: có liên quan mật thiết với nhau. Bao giờ cũng vậy khi nói đến hiện tượng song ngữ luôn luôn có một ngôn ngữ được coi là “ngôn ngữ thứ nhất”. Nói đến ngôn ngữ thứ nhất, người ta thường nghĩ ngay đến tiếng nói đầu tiên, tiếng của cha mẹ nói khi sinh ra con.
Đương nhiên Tiếng mẹ đẻ được dùng đê chỉ tiếng của cha mẹ, tiếng của dân tộc. Nếu hiểu như vậy chúng ta thử giả dụ: anh A người Hoa lấy chị B là người Việt, con họ sinh ra ở Quận 5, TPHCM chỉ biết nói tiếng Việt mà không biết nói tiếng Hoa. Sau đó gia đình chuyển đến Mỹ sinh sống, đứa bé đi học trường Mỹ nói tiếng Anh Mỹ quên dần tiếng Việt. Vậy tiếng mẹ đẻ của đứa trẻ là tiếng gì? 1I Theo định nghĩa rộng thì bất cứ thứ tiếng nào mà không có truyền thống chữ viết thì đều được coi máy móc là phương ngữ của một ngôn ngữ địa phương và đứa ói thứ ngôn ngữ địa phương nhóm nhỏ chưa có chữ viết đó lập tức sẽ được coi là tiếng mẹ đẻ của nó (cho dù đứa trẻ ấy không biết nhiều lắm về ngôn ngữ này) Theo định nghĩa hẹp, tiếng mẹ đẻ là tiếng nói dùng trong gia đình (bất kể trình độ phát triển của thứ tiếng ấy như thế nào).
Đây là cách nhìn nhận tiếng mẹ đẻ từ tình hình ngôn ngữ ở Ấn Độ. Ấn Độ là quốc gia có tới 200 ngôn ngữ được xếp loại (còn thực tế có khoảng 1625 ngôn ngữ và phương ngữ). Ấn Độ lại là một quốc gia có lập trường đa nguyên về giáo dục song ngữ vì thế cần phải có một khái niệm mang tính thực tế về tiếng mẹ đẻ. Từ một cách nhìn nhận khác, U.
Weinreich cho rằng, nhóm người nói tiếng mẹ đẻ là nhóm người trong điều kiện song ngữ chỉ học được một trong các ngôn ngữ là ngôn ngữ thứ nhất. Martinet, nếu chỉ lấy cảm giác để gán cho một ngôn ngữ nào đó là ngôn ngữ thứ nhất thì đó là một việc làm không hợp chuẩn, vì các cảm giác này không ồn định theo thời gian. Có thể, khi người ta còn bé thì họ cho ngôn ngữ này là ngôn ngữ thứ nhất, nhưng khi lớn lên, do hàng loạt các nhân tố xã hội trong đó chủ yếu là môi trường ngôn ngữ, người ta lại có thể cho ngôn ngữ khác là ngôn ngữ thứ nhất.martinet đi đến kết luận, cần kiên quyết gạt bỏ quan điểm cho rằng, khái niệm tiếng mẹ đẻ được bảo tồn ở vị trí thống trị của một con người từ thời thơ ấu cho đến lúc chết. Một số nhà nghiên cứu khác như V.Page lại cho rằng, trong xã hội đa ngữ mà một người từ lúc biết đến hai hoặc hơn hai ngôn ngữ thì khái niệm tiếng mẹ đẻ chỉ có giá trị tương đối không ôn định.
Vì: Một là việc xác định tiếng mẹ đẻ sẽ dựa trên cam giác của người nói, hai là coi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ nhất thì tiếng mẹ đẻ được học trước tiên so với các tiếng khác. Nhiều khi tiếng mẹ đẻ còn phụ thuộc vào nhóm, tộc người nhất định, tức là liên quan đến ý thức tộc người, đó là ý thức tự xưng, tự nhận dân tộc, và cũng vậy, đó là ý thức tự nhận tiếng mẹ đẻ.! 18-119] 12 Với một hiện tượng, một khái niệm tưởng như đơn giản, nhưng ở trong xã hội song ngữ, con người phải di chuyển, thay đổi môi trường sống, thay đổi ngôn ngữ, hội nhập thế giới nên theo thời gian việc xác định tiếng mẹ đẻ cho thế hệ sau (thế tiếp theo) là điều không hề đơn giản. Chính vì vậy tổ chức giáo dục và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) khi xem xét vấn đề giáo dục bằng bản ngữ đã đưa ra khái niệm tiếng mẹ đẻ: Tiếng mẹ đẻ “là ngôn ngữ mà con người được học trong những năm đầu của đời mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên”. “Tiếng mẹ đẻ không cần phải là thứ tiếng mà cha, mẹ đứa bé dùng cũng không cần phải là ngôn ngữ ngẫu nhiên mà đứa trẻ học để nói, bởi vì có những hoàn cảnh đặc biệt làm cho nó vào một tuổi rất sớm đã bỏ một phần hay bỏ hoàn toàn ngôn ngữ đó” (UNESCO.
Với định nghĩa này thì chúng ta đã có thể tìm được câu trả lời cho trường hợp. giả dụ ở trên. Ngoài ra, UNESCO cũng đưa ra khái niệm Tiếng bản xứ và Người không có tiếng mẹ đẻ đễ nói rõ hơn một số vấn đề liên quan đến tiếng mẹ đẻ. Tiếng bản xứ (Vernacular - cách gọi khác là thổ ngữ): “Đó là tiếng mẹ đẻ của một nhóm bị một nhóm khác nói một thứ tiếng khác thống trị về xã hội hay chính trị Chúng tôi không coi ngôn ngữ của một nhóm thiểu số trong một nước là bản ngữ nếu đó là ngôn ngữ chính thức của nước khác” (UNESCO 1968) SWONAL (speakers without a native language; người không có tiếng mẹ đê).
Năng lực ngôn ngữ chủ yếu của người không có tiếng mẹ đẻ không phải là ở tiếng mẹ đẻ của họ cũng không phải ở ngôn ngữ thứ hai mà họ học được mà là ở ngôn ngữ trung gian. Người không có tiếng mẹ đẻ thường sống ở xã hội mà ngôn ngữ thứ hai của họ đang thịnh hành trong giao tiếp. Ví dụ, đối với hậu duệ của người Hoa ở Bắc Mĩ thì ngôn ngữ thứ nhất của họ là tiếng Hán nhưng hầu như không có ai biết tiếng Hán mà chỉ biết tiếng Anh theo kiểu pha trộn. "Người song ngữ là nhân tố trung tâm của hiện tượng song ngữ xã hội.
Người song ngữ là người ngoài tiếng mẹ đẻ còn biết và có thể sử dụng một hoặc nhiều ngôn ngữ khác trong quá trình giao tiếp. Làm sao để đánh giá mức độ “biết” của “người song ngữ”? Quan điểm thứ nhất, các nhà ngôn ngữ học Mỹ cho rằng, song ngữ là việc nắm 13 như nhau hai ngôn ngữ.A (1966), song ngữ là phản ánh sự biết nói năng trong giao tiếp nhờ vào phương tiện của hơn một ngôn ngữ. Khi năng lực ngôn ngữ của cá nhân sử dụng ngôn ngữ thứ hai (gồm một hay hơn một ngôn ngữ) đạt đến trình độ thuần thục (co-ordinated) thì được coi là người song ngữ hoàn toàn. 7huẩn thục có nghĩa là khả năng nắm bắt ột cách chủ động, tự do như nhau hai ngôn ngữ đến mức cé thé tw duy trực tiếp bằng từng ngôn ngữ mà không cân ti duy chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác [40, tr.
Đạt đến trình độ như vậy, thì các cá nhân song ngữ có thể sử dụng các ngôn ngữ một cách tự nhiên tùy vào bối cảnh giao tiếp cụ thể mà không cảm thấy có sự chênh lệch về khả năng sử dụng giữa các ngôn ngữ có nghĩa là không cần phải trải qua khâu dịch lại trong giao tiếp hoặc trong tư duy. Trên thực tế không nhiều người có khả năng nắm vững một cách hoàn hảo hai ngôn ngữ. Với tiêu chí này thì người song ngữ hoàn toàn rất ít.I (1972), ở Liên Xô (cũ) trước đây số người có năng lực song ngữ như vậy chỉ chiếm khoảng 2 đến 5%. Theo Gai Xing Zhi (1997) - giáo sư ở Học viện Dân tộc Vân Nam -Trung Quốc, chỉ có những trẻ em ngay từ khi sinh ra ở môi trường song ngữ thì mới hy vọng là người song ngữ hòan toàn [40.
Trẻ em người Hoa ở Quận 5 TPHCM có hoàn cảnh song ngữ khá thuận lợi để trở thành người song ngữ hoàn toàn nhưng thực tế điều tra cho thấy không nhiều trẻ em và người lớn có năng lực song ngữ đạt đến mức thuần thục. Vậy nên cách đánh giá trên chỉ là một cái nhìn mang tính lý tưởng hóa, những cá nhân có năng lực sử dụng thuần thục hai ngôn ngữ được coi là “người song ngữ lý tưởng” Nếu chỉ căn cứ vào tiêu chí “thuần thục” thì chúng ta sẽ bỏ qua nhiều hiện tượng đa ngữ mang tính phổ biến trên thế giới.