Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu thuộc thể loại luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học (hướng tiếp cận Ngôn ngữ học xã hội và Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu), được hoàn thành vào tháng 04 năm 2022 tại Hà Nội. Đề tài luận án mang tên: "Đặc điểm của từ ngữ lóng trên tư liệu của tiếng Hán và tiếng Việt".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tiếng lóng là hiện tượng ngôn ngữ quen thuộc trong đời sống xã hội, mang đặc trưng của ngôn ngữ nói thông tục, đậm màu sắc địa phương và phong vị dân gian. Dưới góc độ của Ngôn ngữ học xã hội (NNHXH), tiếng lóng được xác định là một loại phương ngữ xã hội đặc thù: gắn liền với các nhóm xã hội nhất định, phụ thuộc vào sự hình thành, phát triển hoặc tiêu biến của nhóm xã hội sản sinh ra nó.
Từ thập niên 1980 đến nay, quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tại Việt Nam và Trung Quốc đã thúc đẩy sự phân hóa xã hội diễn ra mạnh mẽ. Kéo theo đó, các nhóm xã hội mới xuất hiện ngày càng nhiều, làm nảy sinh các biến thể ngôn ngữ đa dạng, trong đó tiếng lóng phát triển nhanh chóng về số lượng và phạm vi biểu đạt. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và Trung Quốc chủ yếu tiếp cận tiếng lóng đơn lẻ trong nội bộ từng ngôn ngữ, còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống và đối chiếu toàn diện về cả hai bình diện: hình thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Việc giải quyết khoảng trống này là cơ sở trực tiếp hình thành nên đề tài luận án.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến tiếng lóng và nguồn tư liệu thu thập được, luận án tiến hành phân tích, đối chiếu nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu đóng góp vào việc nghiên cứu tiếng lóng nói riêng, lý thuyết phương ngữ xã hội trong ngôn ngữ học xã hội nói chung, đồng thời làm rõ đặc trưng văn hóa dân tộc phản ánh qua ngôn ngữ.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về tiếng lóng, hệ thống hóa các quan điểm lý luận liên quan đến tiếng lóng; từ đó xây dựng khung cơ sở lý luận cho luận án.
- Nghiên cứu, khảo sát đặc điểm của từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt ở hai bình diện: hình thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa.
- Thông qua việc khảo sát đặc điểm về hình thức và nội dung của từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt, luận án chỉ ra những đặc điểm chung (tính phổ quát) và những đặc điểm riêng (tính đặc thù) của từ ngữ lóng trong mỗi ngôn ngữ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các đơn vị từ ngữ lóng (bao gồm cả từ lóng và ngữ lóng) trong tiếng Hán và tiếng Việt.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ ngữ lóng thuộc 4 nhóm xã hội đặc thù: (1) Nhóm trộm cướp, (2) Nhóm ma túy, (3) Nhóm mại dâm, (4) Nhóm buôn lậu. Luận án lựa chọn 4 nhóm này do đây là các nhóm xã hội gắn với quan niệm truyền thống về tiếng lóng (gắn với các nhóm đối tượng xấu, nhóm kín), có tính khu biệt cao và hệ thống từ ngữ lóng tương đối ổn định, đã được khẳng định rõ nét trong các nguồn tư liệu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về tiếng lóng trên thế giới gắn liền với sự phát triển của Ngôn ngữ học xã hội qua các công trình nền tảng của Fasold Ralph (The Sociolinguistics of Society, 1984), Wardhaugh Ronald (An Introduction to Sociolinguistics, 1986, 2006), Gumperz J.J. (Language in Social groups, 1971), Robin Lakoff (Language and Woman’s Place, 1975), Eckert Penelope (Age as a Sociolinguistic variable, 1998). Các công trình này đặt nền móng giải thích ngôn ngữ trong sự tương tác với các biến số xã hội như giới tính, độ tuổi, giai tầng và nghề nghiệp.
Về nghiên cứu chuyên biệt đối với tiếng lóng và ngôn ngữ giới trẻ, các công trình tiêu biểu gồm:
- Dundes Alan và Schonhorn (1963) với Kansas University Slang: A new generation, khảo sát tiếng lóng sinh viên.
- Hudson (1983) với The language of the teenage revolution: the dictionary defeated, chỉ ra sự khác biệt giữa tiếng lóng giới trẻ Anh thập niên 50-60 với tiếng Anh chuẩn.
- Thorne (2007) trong The latest youth slang, khẳng định tiếng lóng giới trẻ là nguồn sáng tạo ngôn ngữ liên tục trong hệ thống tiếng Anh.
- Clem Adelman (1976) trong The language of teenage groups - They don't speak our language, phân tích ngôn ngữ của thanh thiếu niên hippie và nhóm Anglo-America.
- Tại Pháp, hiện tượng tiếng lóng được ghi nhận qua các tác phẩm của Eugène Sue (Les Mystères de Paris), Eugène-François Vidocq (Les Mémoires de l'ex-bagnard), cùng các khảo cứu của Honoré de Balzac (Essai sur l'argot, 1834), Pierre Guiraud (L'Argot, 1956), Yves Cortez (Le français que l'on parle, 2003).
- Các nghiên cứu liên quan đến cấm kỵ, biệt ngữ: Keith Allan và Kate Burridge (Forbidden words taboo and the censoring of language, 2006), Raphael Finkel (The Jargon file, 1975), Theodor W. Adorno (Jargon of Authenticity, 1973), Barrece M. (A dictionary of slang and jargon, 1988).
Các hướng nghiên cứu tại Trung Quốc
Nghiên cứu tiếng lóng tại Trung Quốc phát triển đa dạng từ văn bản cổ đến khẩu ngữ hiện đại:
- Lục Tĩnh Trinh (陆静贞 - Lu Jingzhen, 2007) trong Đại từ điển tục lý ngữ mới biên soạn (新编俗俚语大辞典), định nghĩa tiếng lóng (lý ngữ) hình thành trên cơ sở khẩu ngữ thường nhật và là từ ngữ phương ngữ thông tục có phạm vi sử dụng hẹp.
- Lý Thục Quyên (李淑娟 - Li Shujuan, 2006) trong Tiếng lóng Trung Quốc mới nhất – Đối chiếu Hán – Anh (最新中国俚语-汉英对照), tập hợp và giải nghĩa 1.400 mục từ tiếng lóng phổ biến sau thời kỳ cải cách mở cửa (1978).
- Trương Tử Tài (张子才 - Zhang Zicai) khảo cứu tác phẩm cổ Lý ngữ vi thực (俚语徵实) của Đường Huấn Phương (thời Đồng Trị, 1873) gồm 3 quyển phân loại tiếng lóng theo số lượng chữ.
- Diêm Văn Bồi (闫文培 - Yan Wenpei) phân tích cơ chế hình thành tiếng lóng hiện đại dựa trên: Nguyên tắc liên quan (关联原则), Bối cảnh tri nhận (认知语境), Mô phỏng meme (魔音模仿), Khuynh hướng giá trị tâm lý nghịch đảo (逆反心理的价值取向).
- Các tác giả khác như Nhiệm Tĩnh Minh (任静明), Dương Kim Cúc (杨金菊), Trần Nguyên (陈原), Hồ Minh Dương (胡明杨), Trương Bảo (张莹), Bành Khánh Hoa (彭庆华), Chu Nhất Minh (周一民), Vu Tĩnh (于静), Ngô Phỉ (吴斐) nghiên cứu tiếng lóng qua khái niệm "ngữ thịnh hành xã hội" (社会流行语) trong giới trẻ và môi trường đô thị.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu tiếng lóng tại Việt Nam bắt đầu từ đầu thế kỷ XX:
- J. (1905) với L'argot anamite trên tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO); Nguyễn Văn Tố (1925) với khảo luận L'argot anamite de Hanoi.
- Về quan điểm đánh giá tiếng lóng, tác giả luận án dẫn luận hai xu hướng:
- Xu hướng bài trừ: Coi tiếng lóng là hiện tượng không lành mạnh, tiêu cực, cần loại bỏ khỏi ngôn ngữ văn hóa (Nguyễn Văn Tu trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, 1976; Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu trong Tiếng Việt trên đường phát triển, 1982).
- Xu hướng nhìn nhận tính khách quan và bổ sung vốn từ: Thừa nhận tiếng lóng vừa có yếu tố tiêu cực nhưng cũng có khả năng làm giàu vốn từ toàn dân nếu không thô tục và có hình ảnh (Trịnh Ngọc Liễn và Trần Văn Chánh, 1979; Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt; Hoàng Thị Châu, 1989; Nguyễn Văn Khang, 2002, 2003, 2012).
- Các luận án, luận văn liên quan đến uyển ngữ, kiêng kỵ và ngôn ngữ xã hội: Bùi Thị Ngọc Anh (2013), Nguyễn Thị Lan Hinh (2004), Đinh Trọng Lạc (1999), Lý Lăng (2011), Hà Hội Tiên (2009), Trương Viên (2003), Trần Thị Vân Yên (2009), Đỗ Thùy Trang (2018).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các công trình trước đây chỉ tập trung nghiên cứu tiếng lóng trong phạm vi một ngôn ngữ (tiếng Hán hoặc tiếng Việt), hoặc nghiên cứu đơn lẻ về uyển ngữ, kiêng kỵ. Chưa có công trình nào tiến hành so sánh, đối chiếu đồng thời cấu tạo và ngữ nghĩa của từ ngữ lóng giữa tiếng Hán và tiếng Việt trên nguồn ngữ liệu thực nghiệm thuộc 4 nhóm xã hội đặc thù. Luận án được triển khai để giải quyết trực tiếp khoảng trống học thuật này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa Ngôn ngữ học xã hội và Ngôn ngữ học cấu trúc:
- Phương ngữ xã hội và biến thể ngôn ngữ:
- Sử dụng quan điểm của Nguyễn Văn Khang, Fasold Ralph, Bùi Khánh Thế: phương ngữ xã hội hình thành tương ứng với sự phân tầng xã hội (giai tầng, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp). Tiếng lóng được xác định là một phương ngữ xã hội đặc thù.
- Tiếp cận khái niệm biến thể ngôn ngữ (variety), biến độc lập (nhân tố xã hội như tuổi tác, giới tính, nhóm xã hội) và biến phụ thuộc (biến ngôn ngữ) theo Wardhaugh Ronald và Nguyễn Văn Khang.
- Khái niệm chuẩn và phi chuẩn: Dựa trên quan điểm của Hoàng Tuệ, Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Leonard Bloomfield (5 biến thể ngôn ngữ), Claude Hagège để phân tích tiếng lóng như một biến thể phi chuẩn có chức năng giao tiếp riêng biệt.
- Cộng đồng giao tiếp và cơ chế lựa chọn ngôn ngữ:
- Khái niệm cộng đồng giao tiếp (Speech Community) của Bloomfield, Wardhaugh, Nguyễn Văn Khang.
- Lý thuyết chọn mã, chuyển mã (Code-switching) và trộn mã (Code-mixing): Mô hình cú pháp chuyển mã của Poplack Shana, Khung ngôn ngữ ma trận (Matrix Language - Frame Model) và Giả thuyết ngăn chặn (The Blocking Hypothesis) của Myers-Scotton; quan điểm phân biệt chuyển mã/trộn mã của Fasold Ralph và Nguyễn Văn Khang.
- Thái độ ngôn ngữ (Language attitude): Khung phân tích của Marko Dragojevic (trạng thái và đoàn kết) và 3 loại thái độ theo Nguyễn Văn Khang (trung thành ngôn ngữ, tự ti ngôn ngữ, kỳ thị ngôn ngữ).
- Lý thuyết từ vựng - ngữ nghĩa:
- Khái niệm từ và đơn vị tạo từ: Trong tiếng Hán dựa vào quan điểm của Hoàng Bá Vinh – Liêu Tự Đông (phân biệt từ, từ tố, chữ Hán qua tiêu chí "vận dụng độc lập"); trong tiếng Việt đối chiếu quan niệm về hình vị/tiếng/từ tố của Nguyễn Tài Cẩn, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Hồ Lê.
- Cấu tạo từ: Phương thức cấu tạo từ đơn và từ phức (ghép, láy).
- Khái niệm ngữ: Phân loại cụm từ tự do và cụm từ cố định theo Diệp Quang Ban.
- Cấu trúc nghĩa của từ: Sử dụng mô hình tam giác/tháp nghĩa của Đỗ Hữu Châu; phân tích 4 thành tố nghĩa: nghĩa biểu vật (nghĩa sở chỉ), nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu), nghĩa biểu thái, nghĩa ngữ pháp.
- Phương thức chuyển nghĩa: Phân tích cơ chế chuyển nghĩa của từ ngữ lóng qua hai phương thức chính là ẩn dụ (hình thức, cách thức, phẩm chất, chuyển đổi cảm giác) và hoán dụ (bộ phận - toàn thể, vật chứa - vật bị chứa, dấu hiệu - sự vật, cụ thể - trừu tượng) theo Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp.
- Phân định khái niệm tiếng lóng:
- Phân biệt tiếng lóng (slang/argot/cant/lý ngữ) với các khái niệm liên quan: biệt ngữ (jargon), thuật ngữ khoa học kỹ thuật, từ nghề nghiệp, uyển ngữ.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận liên ngành Ngôn ngữ học xã hội kết hợp Ngôn ngữ học cấu trúc; kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng.
- Phương pháp thu thập và xử lý ngữ liệu:
- Thu thập từ ngữ lóng qua sách từ điển, báo in, báo mạng, chương trình truyền hình và mạng xã hội.
- Sử dụng phương pháp thủ công (lập danh mục, đọc và phân nhóm từ ngữ theo chuyên mục) kết hợp phần mềm phát hiện từ ngữ tự động.
- Sử dụng phần mềm bảng tính Microsoft Excel để lưu trữ, phân loại, tính toán tỷ lệ và biểu diễn số liệu thống kê.
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Miêu tả cấu trúc hình thái và đặc điểm ngữ nghĩa của các đơn vị lóng.
- Các thủ pháp nghiên cứu:
- Thủ pháp phân tích nghĩa tố, phân tích trường từ vựng - ngữ nghĩa và phân tích biến thể từ vựng - ngữ pháp.
- Thủ pháp phân tích ngôn cảnh: Đặt từ ngữ lóng vào ngôn cảnh tình huống (ngôn cảnh phát ngôn) và ngôn cảnh văn hóa.
- Thủ pháp so sánh - đối chiếu trường từ vựng - ngữ nghĩa: Đối chiếu tư liệu tiếng Hán với tiếng Việt để tìm ra nét tương đồng và dị biệt.
Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Tổng dung lượng ngữ liệu khảo sát thực nghiệm gồm 2.944 đơn vị từ ngữ lóng, phân bổ cân đối:
- 1.472 đơn vị từ ngữ lóng tiếng Việt.
- 1.472 đơn vị từ ngữ lóng tiếng Hán.
Ngữ liệu được trích xuất từ các nguồn chính:
- Từ điển: Nguyễn Văn Khang (2002), Tiếng lóng tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội; Lý Thục Quyên (2006), Tiếng lóng Trung Quốc mới nhất – Đối chiếu Hán – Anh, Nxb Tân Thế giới; Lục Tĩnh Trinh (2007), Đại từ điển tục ngữ, tiếng lóng mới biên soạn, Nxb Cổ tịch Triết Giang.
- Báo chí: Báo in và báo điện tử của Báo Công an nhân dân, Báo An ninh thủ đô, Báo An ninh thế giới.
- Truyền thông và mạng xã hội: Phim phát sóng trên kênh VTV1, VTV3 (Đài Truyền hình Việt Nam); các diễn đàn mạng xã hội như Facebook, Weibo.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu tiếng lóng trên thế giới, tại Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời xây dựng hệ thống khái niệm công cụ cho toàn bộ luận án.
Về mặt lý luận, tác giả khẳng định tiếng lóng là một biến thể phương ngữ xã hội đặc thù mang tính phi chuẩn. Luận án phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa sự vận động của tiếng lóng với các nhân tố xã hội (tuổi tác, nghề nghiệp, nhóm xã hội, bối cảnh kinh tế - văn hóa). Chương này cũng làm rõ các cơ chế ngôn ngữ học như lựa chọn mã, chuyển mã, trộn mã, thái độ ngôn ngữ, lý thuyết về cấu tạo từ (từ đơn, từ phức, đơn vị tạo từ) và các quy luật chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ), tạo tiền đề lý thuyết để phân tích dữ liệu thực nghiệm ở Chương 2 và Chương 3.
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ lóng (từ tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt)
Chương 2 thực hiện khảo sát, miêu tả và đối chiếu chi tiết đặc điểm cấu tạo của 1.472 từ ngữ lóng tiếng Hán và 1.472 từ ngữ lóng tiếng Việt. Hệ thống dữ liệu được tổ chức và phân tích qua hệ thống bảng thống kê:
| Nhóm đối tượng khảo sát |
Tiêu chí phân tích cấu tạo trong luận án |
| Từ ngữ lóng tiếng Hán |
- Xét theo thành tố cấu tạo - Xét theo số lượng thành tố cấu tạo trong từng nhóm xã hội - Xét theo đơn vị từ vựng (từ lóng và ngữ lóng) - Xét theo từ loại của các nhóm xã hội - Từ đơn tiết xét theo nguồn gốc và từ loại - Từ phức xét theo nguồn gốc - Phân loại cấu tạo ngữ lóng theo 4 nhóm xã hội |
| Từ ngữ lóng tiếng Việt |
- Xét theo thành tố cấu tạo - Xét theo số lượng thành tố cấu tạo trong từng nhóm xã hội - Xét theo đơn vị từ vựng (từ lóng và ngữ lóng) - Xét theo từ loại của các nhóm xã hội - Phân loại từ lóng theo các nhóm xã hội - Từ đơn xét theo nguồn gốc và từ loại - Từ phức xét theo nguồn gốc - Cấu tạo ngữ lóng thuộc 4 nhóm xã hội |
Chương 2 làm sáng tỏ các mô hình cấu tạo hình thái của từ ngữ lóng: từ lóng đơn tiết/từ đơn, từ phức (ghép, láy) và các tổ hợp ngữ lóng. Đồng thời chỉ ra cách thức tận dụng các yếu tố từ vựng sẵn có trong tiếng Hán và tiếng Việt để tạo ra các cấu trúc từ ngữ lóng đặc trưng cho từng nhóm xã hội (trộm cướp, ma túy, mại dâm, buôn lậu).
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng (từ tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt)
Chương 3 đi sâu vào phân tích nội dung ngữ nghĩa và các cơ chế định danh ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong hai ngôn ngữ:
- Đặc điểm chung về ngữ nghĩa: Khảo sát tính đa nghĩa, tính lâm thời, tính biểu cảm - đánh giá cao và mối liên hệ giữa nghĩa của từ ngữ lóng với văn hóa, tâm lý nhóm.
- Đặc điểm cụ thể theo 4 nhóm xã hội: Phân loại và đối chiếu ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt qua từng nhóm hành vi phạm tội và hoạt động ngầm:
- Nhóm trộm cướp: Các trường nghĩa chỉ đối tượng trộm cướp, công cụ gây án, hành vi trộm cắp/cướp giật, tang vật, địa bàn hoạt động, sự phát hiện/bắt giữ của cơ quan chức năng.
- Nhóm ma túy: Các trường nghĩa chỉ các loại chất ma túy (hàng trắng, ma túy tổng hợp, cần sa...), dụng cụ sử dụng ma túy, hành vi mua bán/vận chuyển, trạng thái phê thuốc/nghiện ngập.
- Nhóm mại dâm: Các trường nghĩa chỉ người bán dâm, người mua dâm, đối tượng môi giới/chăn dắt, hành vi mua bán dâm, địa điểm hoạt động và giá cả dịch vụ.
- Nhóm buôn lậu: Các trường nghĩa chỉ hàng hóa buôn lậu, phương thức vận chuyển qua biên giới, thủ đoạn đối phó lực lượng kiểm soát, mạng lưới tiêu thụ.
- Cơ chế chuyển nghĩa: Phân tích sự hình thành nghĩa lóng thông qua các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ (ẩn dụ hình thức, cách thức, phẩm chất...) và hoán dụ (bộ phận - toàn thể, vật chứa - vật bị chứa, dấu hiệu - thực thể...). Qua đó, chương 3 chỉ ra các nét tương đồng do quy luật tư duy liên tưởng chung và các nét dị biệt phản ánh đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa của người sử dụng tiếng Hán và tiếng Việt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện các thành tựu lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về tiếng lóng trên thế giới, tại Trung Quốc và Việt Nam, xác lập cơ sở lý thuyết vững chắc từ góc độ Ngôn ngữ học xã hội kết hợp Ngôn ngữ học cấu trúc.
- Làm rõ các đặc điểm cấu tạo hình thái và đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt; chỉ ra những điểm giống nhau (tính phổ biến) và điểm khác nhau (tính đặc thù) giữa hai ngôn ngữ.
- Làm sáng tỏ các quy luật vận động của biến thể ngôn ngữ trong cộng đồng người sử dụng tiếng Hán và tiếng Việt, chứng minh mối quan hệ giữa biến đổi xã hội và sự phân hóa ngôn ngữ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp khung phân tích và dữ liệu thực chứng giúp nhận diện, tiếp cận và lý giải các đơn vị từ ngữ lóng trong bối cảnh xã hội đương đại khi các nhóm xã hội ngày càng phát triển đa dạng.
- Đóng góp tư liệu khoa học thiết thực phục vụ công tác giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giúp phân định rõ ranh giới giữa chuẩn mực và phi chuẩn trong giao tiếp.
- Ứng dụng trực tiếp vào công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình và nghiên cứu đối chiếu tiếng Hán và tiếng Việt với tư cách là ngoại ngữ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Do tính chất phức tạp và độ mở của khái niệm tiếng lóng trong đời sống hiện đại, luận án giới hạn phạm vi khảo sát ngữ liệu trong 4 nhóm xã hội đặc thù mang tính truyền thống (trộm cướp, ma túy, mại dâm, buôn lậu). Luận án chưa thể bao quát toàn bộ các nhóm xã hội mới xuất hiện như tiếng lóng của học sinh - sinh viên, tiếng lóng trên không gian mạng mở rộng (Facebook, Zalo, diễn đàn đa lĩnh vực).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát từ ngữ lóng sang các nhóm xã hội tích cực hoặc trung tính (giới trẻ, học sinh, sinh viên, các nhóm nghề nghiệp chuyên môn hóa) và các nền tảng truyền thông số mới, nhằm theo dõi sự chuyển hóa từ tiếng lóng vào ngôn ngữ toàn dân.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết Ngôn ngữ học xã hội về phương ngữ xã hội, lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ, mô hình chuyển mã/trộn mã, cấu trúc nghĩa của từ và phương pháp nghiên cứu đối chiếu Hán - Việt.
- Người dạy và học tiếng Hán/tiếng Việt như một ngoại ngữ: Tham khảo nguồn ngữ liệu khẩu ngữ thực tế, hiểu rõ cơ chế chuyển nghĩa và bối cảnh sử dụng từ ngữ không chính thức để nâng cao năng lực giao tiếp thực tế và dịch thuật.
- Cơ quan quản lý văn hóa, báo chí - truyền thông và cơ quan chức năng: Sử dụng kết quả phân loại ngữ nghĩa của 4 nhóm xã hội (ma túy, trộm cướp, buôn lậu, mại dâm) để phục vụ công tác giám sát, nhận diện hành vi xã hội và định hướng giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu đơn vị từ ngữ lóng và phân bố giữa hai ngôn ngữ như thế nào?
Luận án khảo sát tổng cộng 2.944 đơn vị từ ngữ lóng, phân bổ đồng đều gồm 1.472 đơn vị trong tiếng Việt và 1.472 đơn vị trong tiếng Hán.
2. Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu từ ngữ lóng ở những nhóm xã hội nào? Vì sao?
Luận án giới hạn nghiên cứu từ ngữ lóng thuộc 4 nhóm xã hội: nhóm trộm cướp, nhóm ma túy, nhóm mại dâm và nhóm buôn lậu. Lý do lựa chọn là vì từ ngữ lóng của các nhóm này đã được khẳng định rõ trong quan niệm truyền thống về tiếng lóng (gắn với nhóm kín, nhóm xấu), có tính khu biệt cao giúp nhận diện rõ nét đặc trưng cấu tạo và ngữ nghĩa.
3. Tác giả sử dụng các nguồn ngữ liệu nào để thu thập từ ngữ lóng tiếng Hán và tiếng Việt?
Ngữ liệu được thu thập từ:
- Từ điển chuyên ngành: Tiếng lóng tiếng Việt (Nguyễn Văn Khang, 2002), Tiếng lóng Trung Quốc mới nhất – Đối chiếu Hán – Anh (Lý Thục Quyên, 2006), Đại từ điển tục ngữ, tiếng lóng mới biên soạn (Lục Tĩnh Trinh, 2007).
- Báo chí: Báo Công an nhân dân, Báo An ninh thủ đô, Báo An ninh thế giới (bản in và bản điện tử).
- Truyền hình và mạng xã hội: Phim trên VTV1, VTV3; mạng xã hội Facebook, Weibo.
4. Luận án sử dụng những công cụ và kỹ thuật nào để thống kê, xử lý dữ liệu?
Tác giả thống kê số lượng bằng phương pháp thủ công (lập danh mục và đọc, phân loại chuyên mục), kết hợp sử dụng phần mềm phát hiện từ ngữ tự động và phần mềm Microsoft Excel để ghi chép dữ liệu, tính toán tỷ lệ, lập các bảng biểu thống kê đối chiếu.
5. Cơ chế chuyển nghĩa chính của từ ngữ lóng được luận án xác định là gì?
Cơ chế chuyển nghĩa chính của từ ngữ lóng trong luận án được xác định thông qua hai phương thức ngôn ngữ học phổ quát: ẩn dụ (dựa trên mối quan hệ tương đồng về hình thức, cách thức, tính chất) và hoán dụ (dựa trên mối quan hệ tương cận, đi đôi với nhau trong thực tế khách quan giữa các đối tượng).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đặc điểm của từ ngữ lóng trên tư liệu của tiếng Hán và tiếng Việt" (2022) là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tiếng lóng dưới góc độ Ngôn ngữ học xã hội kết hợp Ngôn ngữ học cấu trúc. Thông qua việc phân tích và đối chiếu 2.944 đơn vị từ ngữ lóng (1.472 đơn vị tiếng Hán và 1.472 đơn vị tiếng Việt) thuộc 4 nhóm xã hội trộm cướp, ma túy, mại dâm và buôn lậu, luận án đã làm sáng tỏ các quy luật cấu tạo hình thái và phân hóa ngữ nghĩa của lớp từ ngữ này. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu thực nghiệm quan trọng, đóng góp thiết thực cho nghiên cứu phương ngữ xã hội, giảng dạy đối chiếu Hán - Việt và công tác giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.