Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Một số quan điểm về ấn dụ Từ cổ chí kim, ấn dụ luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ các lĩnh vực khác nhau. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu ấy, tuỳ góc nhìn mà cách hiểu về ấn dụ sẽ khác nhau. Các nhà triết học va logic học trước kia luôn là những người phản đối ân dụ trong các công trình liên quan đến địa vực nghiên cứu của mình, xem ân dụ như “con ghẻ” và bị xua đuổi.
Trong đó có nhà triết học người Anh T. Hobbes, người kịch liệt chống lại việc sử dụng ấn dụ trong các tác phẩm triết học, đã gol ấn du là “đám ma trơi” va ông tin rằng sử dụng ấn dụ nghĩa là “đi lạng quạng giữa vô số những điều xằng bậy” [7, tr. Dù nó thế nào đi chăng nữa thì theo cách nói của triết gia người Anh, không thể nào thoát ra khỏi “đám ma trơi” ân dụ. Vậy an dụ là gì mà chúng ta không thể thoát ra khỏi nó, dù vô tình hay hữu y? An dụ trong tiếng Hy Lap là “Métaphora”, có nghĩa là sự chuyên nghĩa giữa từ và nhóm từ dựa trên mỗi quan hệ giống nhau ít nhiều mang tính rõ ràng [26, tr.
Theo quan điểm nhà triết học lỗi lạc thời Hy Lạp cô đại Aristote: “ân dụ là sự chuyên một từ nào đó từ loại sang giống, hoặc từ giống sang loại, hoặc từ giống sang giống, hoặc theo quan hệ tương tự” [1, tr. Từ góc nhìn thi ca, ta có thé hiểu ý của Aristote: ân dụ chuyên đổi ý nghĩa từ A sang B, theo mối quan hệ giống loại hoặc tương đồng. Quan điểm này được nhiều nhà nghiên cứu về sau lấy làm nên tang cho các công trình nghiên cứu về ấn dụ, đặc biệt các nhà nghiên cứu theo quan điểm truyền thống. Ngoài Aristote nhiều học giả khác cũng giải thích về ân dụ, chăng hạn quan điểm của A.
A Reformatsk: “Ân dụ theo nghĩa chiết tự là “sự chuyên đổi”, là trường hợp chuyền nghĩa điển hình nhất. Sự chuyên nghĩa theo ân dụ dựa trên sự giống nhau của các sự vật về màu sắc, hình thức, đặc tính vận động,.” [dẫn theo 54, tr.N Golovin định nghĩa: “sự chuyển đổi giữa các từ từ một đối tượng này sang một đôi tượng khác trên cơ sở sự giông nhau của chúng được gọi là ân dụ” [dẫn theo 54, tr. Chung quy, các quan điểm trên đều cho rằng, an dụ là sự “chuyển đổi” và “đồng dạng”. Tại Việt Nam, theo quan điểm truyền thống ấn dụ được xem là biện pháp tu từ.
Từ góc nhìn phong cách học trong thi ca, Hữu Đạt xem “An dụ là kiểu so sánh không nói thăng. Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ân dụ phải dùng năng lực liên tưởng dé quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện văn bản với các sự vật, hiện tượng ton tại bên ngoài văn bản” [1ó, tr. Theo Dao Than: “ngoài các loại ấn dụ thay cho đối tượng, hoạt động, động tác, tính chất, còn có ân dụ thay cho cả ý. Trường hợp cuối cùng được chúng tôi gọi là ân dụ sự tình, trong đó sự tình (mang tính cụ thể hơn) được sử dụng làm hình ảnh dé diễn dat sự tình kia (trừu tượng hơn)” [dẫn theo 54, tr.
Như vậy ấn dụ được xem là cách nói thay thé, ân đi sự tình dé giấu đi nghĩa hàm ẩn bên trong. Nguyễn Lân giải thích ân dụ là: “Phép sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên cơ sở sự tương đồng, sự giống nhau. giữa các thuộc tính của cái dùng để nói và cái nói đến. Ân dụ cũng là một cách ví, nhưng không cần dùng đến những tiếng để so sánh như: tựa, như, tường, băng.” [dẫn theo 54, tr.
Đỗ Hữu Châu quan niệm: “An dụ là cách gọi tên một sự vật này bang tén một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [dan theo 54, tr.156] Đỗ Hữu Châu đã giải thích thêm về an dụ như sau: “ Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi của x (tức là x là nghĩa biểu vật của A). Phương thức ân dụ là phương thức lay tên gọi A của x dé gọi tên y (biểu thị y), nếu như x và y giống nhau”. Nguyễn Thiện Giáp “ An dụ là sự chuyên đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật và hiện tượng được so sánh với nhau” [21, tr.
Khi Ngôn ngữ hoc Tri nhận ra đời va phổ biến, ấn dụ vốn dĩ được xem như là một đặc tính riêng của ngôn ngữ, là vấn đề liên quan đến từ ngữ chứ không có liên hệ gì đến tư duy. Lakoff và Johnson [22] cho rằng: “nếu quả thật hệ thống ý niệm của chúng ta đa phan là có tính ấn dụ, vậy thì cách thức chúng ta suy nghĩ, những gi chúng ta trải nghiệm, và những gì chúng ta làm mỗi ngày cũng thật sự là một vấn đề của ấn dụ”. Quan điểm của Lakoff và Johnson đã mở rộng phạm vi và sự ton tại của an dụ trong đời sống chúng ta, mà theo cách nói của hai ông là “Metaphors we live by” (chúng ta sống bằng ấn dụ). Sau này, nhiều công trình nghiên cứu về an dụ tri nhận được ra đời.
Theo Lakoff và Johnson: “ân dụ tràn ngập hệ thống ý niệm thông thường của chúng ta. Bởi vì có quá nhiều ý niệm quan trọng hoặc trừu tượng hoặc là không được phác hoạ rõ nét trong kinh nghiệm (cảm xúc, ý tưởng, thời gian, vv. Ngôn ngữ hoc Tri nhận coi ấn dụ là công cụ quan trọng dé y niém hoa. Theo Lakoff, ấn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là cách ánh xạ hay phóng chiếu vào miền đích là miền trải nghiệm khác.
Vi dụ: Argument is war (Tranh luận là cuộc chiến tranh); love is journey (tình yêu là cuộc hành trình) [21, tr. Triệu Diễm Phương [44, tr.153-154] khi nói về sự ra đời của ân dụ và xem ân dụ là sự “biểu đạt một ý niệm nay bằng một ý niệm khác” dựa trên: nguyên tắc tương tự (Principle of similarity) và nguyên tắc tiếp cận thuận (Principle of good continuation). Nhìn chung, ân dụ luôn là đối tượng được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm, đặc biệt khi Ngôn ngữ học Tri nhận ra đời, với sự đóng góp quan trong trong quan điểm về ân dụ của Lakoff và Johnson “Metaphors we live by” (chúng ta sống bằng ân dụ), xem ân dụ không chỉ năm trong hệ thống ngôn ngữ mà ngay cả trong các câu nói giao tiép hàng ngày, ân dụ được hình thành bởi nên tảng ý niệm. Nếu nói ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là phương tiện của giao tiếp thì trong ngôn ngữ, ấn dụ là cách thức mà con người tri nhận về thế giới khách quan.
An du vốn di chính bản thân nó đã chứa đựng ý niệm bởi quy tắc chuyển đổi và cách tư duy của con người về các sự vật và hiện tượng. Tất cả các quan điểm trên về an dụ cho thấy rang, trong đời sống của chúng ta ấn dụ xuất hiện với tần suất cao và an dụ chính là hệ thống ý niệm mà con người dùng dé miêu tả thế giới qua những trải nghiệm va tri nhận, thê hiện bởi công cụ là ngôn ngữ, nhắm truyện tải những tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hệ thống và phân loại ý niệm ấn dụ An dụ được xem là một công cụ của tri nhận có tính phô quát. Khi con người tư duy và hình thành ý niệm về một sự vật sự việc nào đó thì lúc đó ân dụ được sinh ra, hay nói cách khác: “Ân dụ.
ngay cả đứa trẻ cũng hiểu được nó” [7, tr. Thật vậy, chang han, một đứa trẻ 6, 7 tuôi cũng có thé hiéu “chan bàn” 99 66 “chân núi”, “333 66 “mặt bàn”, “mũi kim”,. nói chung là những từ vựng mà đứa trẻ ây đã được tiêp xúc. Tuy nhiên, hiệu nghĩa cua từ là một câu chuyện, nhưng dé lý giải cả hệ thông ân dụ, hay bản chất an dụ là một điều không phải đơn giản.
Vậy hệ thống an dụ được hình thành như thé nào? An dụ là một hiện tượng có tính hệ thống hay ngẫu nhiên? Từ ấn dụ “TRANH LUẬN LA CHIEN TRANH”, với những biểu thức được đưa ra như: tấn công một vị trí, không thé phòng thủ, hướng tấn công mới, chiến thắng, rút lui,. như vậy nó đã được xem như một hệ thống. Qua ý niệm, con người đã hình thành nên một hệ thống biểu thức diễn đạt chúng trong ngôn ngữ. Vi thế, Lakoff và Johnson [22, tr.27-28] cho rằng “các biểu thức ẩn dụ trong ngôn ngữ của chúng ta được nối bện với các ý niệm an dụ theo một cách thức có hệ thống, chúng ta có thé sử dụng biểu thức ngôn ngữ có tính ân dụ dé tìm hiểu bản chất của các ý niệm của ân dụ và dé đạt được một sự hiểu biết ban chất an dụ của những hoạt động của chúng ta”.
Như vậy ấn dụ có tính hệ thống, cho nên chúng ta có thể tìm được bản chat cũng như cơ chê hoạt động khác của ân dụ, từ đó mở rộng nghiên cứu vê nó. Hệ thống ý niệm cho phép chúng ta lĩnh hội một khía cạnh của an du. Lakoff va Johnson [22, tr.38] dé xuat vé nén tang kinh nghiém, tinh mach lac, va tinh hé thống ý niệm ấn dụ như sau: - Hầu hết các ý niệm nền tảng của chúng ta được tô chức thông qua một hay nhiều ấn dụ không gian hoá. - Mỗi an dụ không gian hoá đều có tính hệ thống nội tại.
- Có một hệ thống thống ngoại tại tổng thể giữa các ân dụ không gian hoá khác nhau, là cái xác định sự mạch lạc giữa chúng. - Các ân dụ không gian hoá bắt nguồn từ kinh nghiệm cơ lí và văn hoá; chúng không được ấn định một cách ngẫu nhiên. Một ẩn dụ có thé được sử dụng dé hiểu một ý niệm chỉ bang hiệu lực của những cơ sở kinh nghiệm của nó. - Có rất nhiều cơ lí và xã hội khả dĩ cho ẩn dụ.
- Trong một trường hợp, sự không gian hoá là một phần quá thiết yếu của ý niệm đến nỗi chúng ta khó tưởng tượng nồi sẽ có ấn dụ thay thé nào khác có thé cau trúc ý niệm. - Cái gọi là an những ý niệm thuần tuý trí tuệ, ví như các khái niệm trong một lý thuyết khoa học, thường — có lẽ là luôn luôn dựa trên những ân dụ có cơ sở cơ lí và/hoặc văn hoá. - Kinh nghiệm cơ lí và văn hoá của chúng ta cung cấp rất nhiều nền tảng khả di cho ấn dụ không gian hoá.