ĐẶT VẤN ĐỀ. 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN. Lịch sử nghiên cứu thai chết lƣu. Các nghiên cứu về thai chết lƣu ở Việt Nam.
20 Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tƣợng nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Thu thập số liệu. Các bƣớc tiến hành. Xử lý số liệu.
Đạo đức nghiên cứu. 30 Chƣơng 3: KẾT QỦA NGHIÊN CỨU. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng thai chết lƣu. Đánh giá kết quả xử trí thai chết lƣu.
39 Chƣơng 4: BÀN LUẬN. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng. Đánh giá kết quả xử trí thai chết lƣu. 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO v AN MỤ ẢN Bảng 3.
Tiền sử sản khoa. Bệnh lý của thai phụ có TCL. Tỷ lệ tuổi thai chết lƣu. Bệnh lý thai và phần phụ của thai.
Triệu chứng lâm sàng phát hiện thai chết lƣu. Dấu hiệu thai chết lƣu trên siêu âm. Kết quả xét nghiệm đông máu của thai phụ có thai chết lƣu. Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu đánh giá chức năng gan,thận.
Các phƣơng pháp xử trí TCL. Xử trí gây sảy, gây chuyển dạ thai lƣu bằng thuốc. Liều Misoprostol mỗi lần đặt gây sẩy, gây chuyển dạ. Tổng liều Misoprostol gây sảy, gây chuyển dạ thành công.
Tổng liều Oxytocin gây sẩy, gây chuyển dạ thành công. Kết quả gây sảy, GCD TCL bằng thuốc. Đánh giá thời gian thai ra của 2 phƣơng phá dùng đơn thuần. Tỷ lệ gây sẩy, gây chuyển dạ thành công với tuổi thai chết lƣu.
Tỷ lệ gây sẩy, GCD thành công liên quan với số lần đẻ. Xử trí TCL bằng phƣơng pháp nong, gắp thai. Các thuốc sử dụng trong xử trí TCL. Thời gian điều trị trung bình.
45 vi AN MỤ ỂU Ồ Biểu đồ 3. Tỷ lệ tuổi của bệnh nhân có thai chết lƣu. Tỷ lệ nghề nghiệp của bệnh nhân có thai chết lƣu. Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử mổ phụ khoa.
34 1 ẶT VẤN Ề Thai chết lƣu là những trƣờng hợp thai chết còn lƣu lại trong buồng tử cung của ngƣời mẹ trên 48 giờ, đây là một bệnh lý sản khoa nguy hiểm. còn gặp với tần suất khá cao ở các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Mặc dù trong suốt quá trình thai nghén đƣợc ngƣời mẹ bảo vệ trong buồng tử cung, nhƣng thai vẫn có thể chết ở bất kỳ tuổi thai nào vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Hậu quả của thai chết lƣu trong tử cung gây một chấn thƣơng tâm lý lớn cho ngƣời mẹ, ảnh hƣởng ít nhiều đến hạnh phúc gia đình, đặc biệt trong những trƣờng hợp hiếm con.
Nghiên cứu của Phan Xuân Khôi (2002) tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ƣơng cho thấy tỷ lệ thai chết lƣu chiếm 7,11% so với tổng số phụ nữ đẻ [24]; nghiên cứu của Nguyễn Thanh Xuân (2003) cho tỷ lệ thai chết lƣu là 8,24% so với tổng số trƣờng hợp phụ nữ đẻ [29]. Thai chết lƣu không chỉ ảnh hƣởng đến con mà gây ra nhiều biến chứng ảnh hƣởng đến sức khỏe và tính mạng ngƣời mẹ nhƣ: chảy máu do rối loại đông máu, nhiễm trùng và gây khó khăn cho lần mang thai sau. Ngày nay với những tiến bộ vƣợt bậc của khoa học kỹ thuật nói chung và những tiến bộ của y học nói riêng, đặc biệt của siêu âm, y sinh học, di truyền học, chẩn đoán trƣớc sinh, thai chết lƣu trong tử cung đã đƣợc phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên hàng ngày ta vẫn còn gặp nhiều bệnh nhân bị thai chết trong tử cung, việc chẩn đoán, điều trị thai chết lƣu trong tử cung là việc làm cần thiết để giảm thiểu tai biến và biến chứng do rối loạn đông máu dẫn đến chảy máu gây ra.
Theo thống kê, số bệnh nhân thai chết lƣu vào điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang không giảm mà có xu hƣớng ngày một tăng: năm 2009- 2010 có 112 bệnh nhân thai chết lƣu vào điều trị, năm 2011 - 2012 có 246 bệnh nhân vào viện điều trị, năm 2013- 2014 có 306 bệnh nhân vào viện điều trị [1]. Khi đã chẩn đoán thai chết lƣu đòi hỏi các thầy thuốc sản khoa phải đánh giá, lựa chọn các phƣơng pháp xử trí, điều trị phù hợp với thực trạng của 2 ngƣời bệnh, với mục đích làm giảm tối đa các tai biến, biến chứng, đảm bảo an toàn cho sức khoẻ và tính mạng ngƣời mẹ. Từ thực tế số lƣợng bệnh nhân thai chết lƣu vào điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang ngày càng nhiều, việc chẩn đoán sớm và xử trí thai chết lƣu đúng và kịp thời là rất cần thiết. Tỉnh Bắc Giang là một tỉnh miền núi có số dân trên 1,5 triệu ngƣời.
Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang là bệnh viện loại một hàng năm tiếp nhận trên 14.000 sản phụ vào sinh đẻ trong đó có cả các trƣờng hợp thai lƣu, nhƣng chƣa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực này. Vì vậy việc hệ thống hóa các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xử lý các trƣờng hợp thai chết lƣu là việc làm cần thiết. Để góp phần giảm thiểu nguy cơ tai biến, biến chứng chảy máu của thai chết lƣu gây ra. Vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ ặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả xử trí thai chết lƣu tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc iang” Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của thai chết lưu tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang năm 2014- 2015 2. Đáng giá kết quả xử trí thai chết lưu tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang 3 hƣơng 1 TỔNG QUAN 1.Định nghĩa Hiện nay chƣa có một tiêu chuẩn thống nhất về thai chết lƣu giữa các nƣớc trên thế giới. Chúng ta quan niệm thai chết lƣu là tất cả các trƣờng hợp thai chết mà còn lƣu lại trong buồng tử cung trên 48 giờ. Năm 1987, Opitz đã phát biểu: đa số thai chết trƣớc khi sinh, chỉ có 1/3 số trứng thụ tinh sống đến năm đầu sau khi sinh [13].
Nếu tính theo tiêu chuẩn thai chết bao gồm tuổi thai từ 20 tuần trở lên đến trƣớc khi thai xổ ra ngoài tử cung. Mỹ có tỷ lệ thai chết chung là 7,5% tổng số đẻ (1988). Nếu tính riêng tỷ lệ thai chết ở ngƣời da trắng là 2,1% (1945) xuống 0,6% ( năm 1988) ở ngƣời da màu khác là 4,2% (1945) xuống 1,1% năm 1988. thai chết trong tử cung chƣa rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ 50% trƣờng hợp [11].Theo tổ chức y tế thế giới, thai chết bao gồm tất cả các trƣờng hợp thai chết trong quá trình thai nghén trƣớc khi sổ ra ngoài tử cung, một số nƣớc còn quy định rõ thêm về cân nặng thai chết phải từ 350g - 500g trở lên [11].
Một số yếu tố liên quan đến thai chết lưu Sự phát triển của bào thai liên quan đến nhiều yếu tố từ cơ sở vật chất di truyền, noãn, tinh trùng, sự thụ tinh, làm tổ trong buồng tử cung đến sức khoẻ ngƣời mẹ. Nếu có bất cứ sự bất thƣờng nào đều có thể dẫn đến TCL. Bắt đầu từ tuần thứ 3 đến cuối tuần thứ 8, đây là giai đoạn tạo mầm cơ quan, những tác nhân bất lợi tác động vào giai đoạn này sẽ tạo các bất thƣờng về hình thái của thai. từ tuần thứ 9 - 40 tuần, đây là giai đoạn các cơ quan hoàn thiện chức năng, những tác nhân bất lợi tác động vào giai đoạn này sẽ tạo các bất thƣờng về chức năng, nếu bị tác động quá mạnh thƣờng dẫn đến thai chết lƣu.
Các nghiên cứu trƣớc đây ghi nhận một tỷ lệ lớn thai chết lƣu là không rõ nguyên nhân. Các nguyên nhân đƣợc tổng kết theo 3 nhóm: một số yếu tố 4 nguy cơ về phía mẹ, một số yếu tố nguy cơ về phía thai và một số yếu tố nguy cơ về phía phần phụ của thai. Một số yếu tố nguy cơ về phía mẹ * Bệnh lý của người mẹ Mẹ mắc các bệnh mãn tính: viêm thận, suy gan, thiếu máu, lao phổi, bệnh tim, cao huyết áp, động kinh. dẫn đến thai thiếu máu, thiếu oxy, nhiễm độc và gây toan chuyển hoá; các bệnh nội tiết: basedow, thiểu năng giáp trạng, đái tháo đƣờng, thiểu năng hay cƣờng năng thƣợng thận, loạn dƣỡng xƣơng, bệnh nhiễm khuẩn, siêu vi khuẩn, viêm nhiễm nội mặc tử cung, dễ gây rau bong non và rau kém phát triển 11].
Tiền sản giật có thể gây thai chết lƣu, tỷ lệ TCL càng cao nếu tiền sản giật càng nặng và không đƣợc điều trị hay điều trị không đúng. Bệnh kéo dài nhiều ngày làm cho thai bị suy dinh dƣỡng và chết. Tỷ lệ thai chết rất cao khi tiền sản giật nặng: hội chứng HELLP hoặc có biến chứng sản giật, rau bong non. Mẹ bị các bệnh nhiễm ký sinh trùng sốt rét, sốt rét ác tính thai bị chết gần nhƣ 100%, giang mai, HIV, fusobacterium, viêm gan, rubella…, trong các trƣờng hợp này thai có thể bị chết vì tác động trực tiếp của nguyên nhân lên các giai đoạn phát triển của thai và bánh rau, hoặc tình trạng sốt của ngƣời mẹ có thể gây thai chết lƣu do khả năng thải nhiệt của thai rất kém, hệ thống điều nhiệt của thai chƣa hoạt động 3,[14].
Mẹ bị nhiễm độc mạn hay cấp tính, sử dụng một số thuốc điều trị ung thƣ, đặc biệt là trong thời gian đầu khi mới mang thai, đều có thể thai bị chết. Tử cung bất thƣờng: tử cung nhi tính, tử cung kém phát triển, các dị dạng khác của tử cung, có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến TCL vì phôi làm tổ, nuôi dƣỡng kém làm cho thai phát triển không tốt [14], [3]. Theo thống kê của một số tác giả thấy tỷ lệ TCL nguyên nhân từ bệnh lý mẹ: theo Arnaud, (1950) tiền sản giật gây thai chết lƣu chiếm 11.93%; 5 Grandin, (1953), bệnh phổi gây TCL chiếm 4.05%, theo Arnaud (1950), bệnh giang mai gây TCL chiếm 6.73%, Noel năm (1980), bệnh tim gây TCL chiếm 2. Kết quả của các tác giả: Phùng Quang Hùng ở BV Phụ sảnTW (2006) đã ghi nhận tỷ lệ TCL do tiền sử của mẹ bị mắc bệnh chiếm xấp xỉ 4,24% trong đó tiền sản giật chiếm tỷ lệ 3,4%, đái tháo đƣờng 1,9% 20; tác giả Phạm Xuân Khôi BVPSTƢ (2000), bệnh lý của thai phụ có liên quan đến thai TCL tỷ lệ cao nhất là hội chứng nhiễm độc thai nghén 2,2% 24; Nguyễn Bá Thiết tỷ lệ mẹ bị biến chứng tiền sản giật chiếm thai chết lƣu chiếm 4% [36].