ĐẶT VẤN ĐỀ Thai chết lưu trong tử cung là một trong những bệnh lý sản khoa nguy hiểm, còn gặp với tỷ lệ khá lớn trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Bệnh lý thai chết lưu có thể xảy ra ở bất kỳ thai phụ nào và bất kỳ thời điểm nào của quá trình mang thai. Hậu quả của thai chết lưu trong tử cung gây một sang chấn tâm lý cho người mẹ, cũng như gia đình họ mất đi người con mà họ ngày đêm mong đợi, yêu thương, hy vọng. Mặt khác, thai chết lưu trong tử cung còn có thể gây ra nhiều biến chứng, ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng người mẹ [2], [3].
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2015 có 2,6 triệu trường hợp thai chết lưu trên thế giới, có 7123 trường hợp thai chết lưu trong một ngày, 98% các ca tử vong xảy ra ở các nước kém và đang phát triển. Các nước Nam Á có tỷ lệ thai chết lưu đứng thứ 3 thế giới (22/1000), sau Châu Phi, Đông Địa Trung Hải, dao động từ 10- 59% [33]. Tại Việt Nam, theo thống kê số bệnh nhân thai chết lưu trong tử cung khá cao: Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 1994 - 1995 có 667 bệnh nhân thai chết lưu vào điều trị, năm 1999 - 2000 có 1202 bệnh nhân thai chết lưu vào điều trị tăng gần 2 lần so với 5 năm trước, năm 2006 - 2007 có 652 bệnh nhân thai chết lưu sanh tại viện [8]. Tại Bình Định (2013) tỷ lệ thai chết lưu là 0,91% ở tất cả các phụ nữ 15 - 49 tuổi đã từng mang thai.
Trần Đức Phấn (2015) ghi nhận tần suất thai chết lưu tại Thanh Khê - Đà Nẵng là 1,59% [29]. Tại Cần Thơ, từ 10/2015- 5/2016, Phan Hoàng Yến ghi nhận có 112 ca thai chết lưu tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ, trong đó có 19 ca tuổi thai từ 20 tuần trở đi [34]. Tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ, số lượng bệnh nhân bị thai chết lưu nhập viện điều trị ngày càng tăng trong những năm gần đây, cụ thể 2 như: Năm 2015 có 145 trường hợp nhập viện vì thai chết lưu, năm 2016 có 297 trường hợp và năm 2017 có 450 trường hợp. Ngày nay, với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, nhất là y sinh học phân tử, di truyền học, chẩn đoán trước sinh, một số nguyên nhân của thai chết trong tử cung cũng đã được sáng tỏ nhưng vẫn còn tỷ lệ lớn thai chết trong tử cung chưa rõ nguyên nhân [2], [3].
Việc ứng dụng siêu âm và xét nghiệm đã giúp người thầy thuốc chẩn đoán nhanh, chính xác và tiên lượng tốt tình trạng bệnh lý này [16]. Các phương pháp điều trị thai chết lưu bằng khởi phát chuyển dạ được cải tiến, thay đổi qua các thời kỳ với mục đích làm giảm tối đa các tai biến cho người mẹ [13], [17]. Xuất phát từ thực tế, thai chết lưu có những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng gì? Điều trị không khó, nhưng chọn phương pháp can thiệp để chấm dứt thai kỳ là nội dung hết sức quan trọng, nhằm tống xuất thai ra càng sớm càng tốt và an toàn cho thai phụ. Là câu hỏi đặt ra khi chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị thai chết lƣu 28- 42 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ năm 2018- 2019” nhằm 2 mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan thai chết lưu từ 28- 42 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ năm 2018- 2019. Đánh giá kết quả điều trị thai chết lưu 28- 42 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ năm 2018- 2019. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa thai chết lƣu Hiện nay trên thế giới chưa có tiêu chuẩn thống nhất về định nghĩa thai chết lưu.
- Theo Tổ chức Y Tế thế giới: thai chết lưu được định nghĩa là bao gồm tất cả các trường hợp thai chết trong quá trình thai nghén trước khi sổ ra ngoài tử cung [33]. - Tại Hoa Kỳ, theo Hiệp Hội Sản Phụ Khoa Hoa Kỳ, quy định thai chết lưu với tuổi thai trên 20 tuần, một số bang của Hoa Kỳ còn quy định thêm về trọng lượng của thai [37] Columbia trọng lượng thai lớn hơn 500gam. Michigan trọng lượng thai lớn hơn 400gam. Kentucky, Lousiana trọng lượng thai lớn hơn 350gam - Ở Pháp, quy định thai chết lưu là thai chết trong từ 22 tuần đến trước chuyển dạ [7].
- Ở Việt Nam: trước kia quy định thai chết lưu bao gồm tất cả các thai chết bất cứ giai đoạn nào trong thai kỳ và lưu lại trong tử cung trên 48 giờ [2]. Hiện nay theo chuẩn quốc gia Việt Nam thì thai chết lưu khi tuổi thai từ 22 tuần trở lên đến trước chuyển dạ [7]. - Người ta có thể chia thai chết lưu làm 3 giai đoạn: 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và tháng cuối, theo 3 giai đoạn của thai kỳ bình thường, hoặc chia làm hai giai đoạn của thai kỳ, lấy mốc là 20 tuần kể từ ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng [26]. Đặc điểm giải phẫu bệnh thai chết lƣu Tùy theo thai chết ở giai đoạn nào của bào thai học (sắp xếp tổ chức hoặc hoàn chỉnh tổ chức) tùy theo ối còn hay vỡ mà có thể thấy các hình thái sau [26] - Thai bị tiêu: Trong 3 tháng đầu thai chứa rất nhiều nước và ít muối khoáng, nên khi thai chết sẽ bị tiêu đi chỉ còn là bọc nước trong, hơi vàng.
- Thai bị teo đét: Các tổ chức đông đặc, chắc lại, da xám nhăn nheo bọc lấy xương, nước ối đặc sánh lại, vẩn đục và cuối cùng sẽ khô đi chỉ để lại một lớp sáp trắng bệch xung quanh thai đã teo đét. - Thai bị bong tróc: Lớp ngoài sẽ bị lột dần từ bàn chân lên đến mắt cá chân, chi dưới, bụng, lưng, chi trên và mặt, đầu. Các tổ chức bị hủy hoại, máu tan ra dần, lớp nội bì lột trần, thấm Hemoglobin nên có màu đỏ tím, các nội tạng bị rữa, xương sọ ọp ẹp, chồng lên nhau, ngực xẹp, bánh nhau vàng úa, teo đét xơ cứng lại, màng nhau vàng úa, nước ối cạn dần có màu hồng đỏ, dây rốn teo nhỏ. Chúng ta có thể dựa vào hiện tượng lột da để xác định thời gian thai chết.
Ngày thứ ba: bong da bàn chân. Ngày thứ tư: bong da chi dưới. Ngày thứ tám: bong da toàn thân. - Thai bị thối rữa: Nếu ối bị vỡ, thai chết là môi trường vô cùng thuận lợi nên vi khuẩn phát triển nhanh, các vi khuẩn kỵ khí có thể gây hoại thư sinh hơi ở tử cung, nhiễm vi khuẩn sẽ lan rất nhanh và gây nguy hiểm cho người mẹ.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG THAI CHẾT LƢU 1. Lâm sàng: Thai chết lưu trong tử cung trên 22 tuần triệu chứng lâm sàng thường rõ ràng, làm bệnh nhân phải đi khám ngay và vấn đề chẩn đoán phân biệt cũng ít khi 5 phải đặt ra [7]. - Trước đó thai phụ đã có thai với các dấu hiệu thai sống: Bụng lớn dần, vú phát triển, thai máy là những cử động thai người mẹ có thể nhận biết được, nắn thấy rõ các phần của thai, tim thai đã được xác định bằng ống nghe gỗ, máy monitor. Siêu âm có tim thai và cử động thai.
- Các triệu chứng lâm sàng thai chết: trong một vài trường hợp thai chết xảy ra ở những thai phụ có nguy cơ cao đang được theo dõi, người ta có thể phát hiện các dấu hiệu suy thai trước khi thai chết trong khi đang theo dõi một thai kỳ nguy cơ cao. Không có cử động thai (đây là dấu hiệu thường để thai phụ đi khám) là triệu chứng chủ quan quan trọng nhất làm cho người mẹ chủ động đi khám thai. Bụng nhỏ dần, bề cao tử cung giảm do không có sự phát triển của thai, và không sản sinh nước ối trong thai chết trong tử cung, đo bề cao tử cung nhỏ lại so với lần đo trước đặc biệt có ý nghĩa trong chẩn đoán thai chết trong tử cung. Vú tiết sữa non (do thai chết lượng Estrogen giảm đột ngột, làm tăng tiết Prolactin và Oxytocin kích thích tiết sữa).
Ra máu âm đạo (ít gặp hơn so với thai dưới 22 tuần). Nắn bụng không rõ phần thai, ngôi thai bất thường như ngôi trán, ngôi ngang, ngôi mặt. Tim thai không nghe được khi nghe bằng ống nghe gỗ, bằng máy Doppler hoặc trên Monitoring sản khoa, đường ghi tim thai là một đường thẳng khi khám gợi ý thai chết. Tuy nhiên để khẳng định thai chết được chẩn đoán xác định qua siêu âm.
Khám âm đạo nếu cổ tử cung đã mở có thể thấy bọc ối hình quả lê mềm thò ra ngoài cổ tử cung, khám ngôi thai không rõ, đầu thai ọp ẹp, đôi khi khám thấy dấu chồng sọ. Nếu ối vỡ có thể thấy nước ối màu đỏ nâu. Cận lâm sàng: Siêu âm: không thấy hoạt động tim thai, không thấy cử động thai, đầu thai méo mó, có thể thấy một viền âm vang nghèo quanh hộp sọ do da đầu bị bong ra (dấu hiệu Halo), các khớp sọ chồng lên nhau dấu hiệu Spalding 1, cột 6 sống bị gấp khúc Spalding 2, dấu hiệu Robertson là trong tim thai hoặc trong động mạch lớn của thai có chứa hơi tạo phản xạ vang đậm và không có âm vang phía dưới, nước ối có thể giảm so với tuổi thai. Chẩn đoán thai chết luôn cần được khẳng định qua siêu âm đó là dấu hiệu tim thai không hoạt động.
Chụp X-quang: Sau khi thai chết khoãng 10 ngày có hình ảnh chồng xương sọ dấu hiệu Spalding 1, cột sống bị gấp khúc, đốt sống chồng lên nhau Spalding 2, hoặc vòng sáng quanh đầu dấu hiệu Devel. Đôi khi thấy bóng hơi trong buồng tim thai hoặc trong các mạch máu lớn dấu hiệu Robertson. Fibrinogen máu : Giảm nếu thai chết lưu > 6 tuần. Định lƣợng βhCG: Giảm ít có giá trị [7].
TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THAI CHẾT LƢU Sự phát triển bào thai liên quan đến tất cả các yếu tố từ cơ sở vật chất di truyền, noãn, tinh trùng, sự thụ tinh, làm tổ trong buồng tử cung đến sức khỏe người mẹ. Những bất thường các yếu trên đều có thể dẫn đến thai chết lưu. Các nghiên cứu trước đây ghi nhận một tỷ lệ lớn từ 20- 50% thai chết lưu là không rõ nguyên nhân [7]. Các nguyên nhân được tổng kết theo 3 nhóm: Các yếu tố nguy cơ về phía mẹ, các yếu tố nguy cơ về phía thai và các yếu tố nguy cơ về phía phần phụ của thai.