Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội" do nghiên cứu sinh Bùi Đoan Trang thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2023, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9.22.01.20), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Lương.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, hành động hỏi là hành động ngôn ngữ có tần suất sử dụng cao. Hỏi và hồi đáp hỏi là hai mặt của một quá trình thống nhất, là tiền đề tồn tại của nhau, cùng hướng tới mục đích làm sáng tỏ thông tin chưa biết và nâng cao nhận thức về đối tượng giao tiếp. Hoạt động lựa chọn ngôn ngữ của các nhân vật giao tiếp chịu sự tác động sâu sắc của các biến số xã hội như tuổi, giới, nghề nghiệp, học vấn, thu nhập, địa vị. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án triển khai, các công trình nghiên cứu về câu hỏi và hành động hỏi trong tiếng Việt chủ yếu tiếp cận từ góc độ ngữ pháp, ngữ nghĩa học hoặc ngữ dụng học đơn thuần; chưa có công trình hay luận án nào đi sâu nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống về hành động hỏi gắn liền với đặc điểm phân tầng xã hội của các vai giao tiếp.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là chỉ ra các đặc điểm về nội dung và hình thức của hành động hỏi cùng hành động hồi đáp hỏi dưới sự chi phối của ba nhân tố xã hội: tuổi, giới và địa vị; qua đó làm rõ sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với hoạt động giao tiếp và vấn đề lựa chọn ngôn ngữ trong tiếng Việt, đóng góp vào Ngữ dụng học và Ngôn ngữ học xã hội tiếng Việt.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
- Xây dựng cơ sở lí thuyết cho luận án.
- Khảo sát, phân loại hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc độ phân tầng xã hội.
- Tìm hiểu sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với hành động hỏi và hồi đáp hỏi.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong giao tiếp bằng tiếng Việt dưới sự chi phối của ba nhân tố xã hội: tuổi, giới và địa vị. Cụ thể, tác giả tập trung khảo sát hành động hỏi trực tiếp thông qua các chủ đề hỏi và các biểu thức ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi; đồng thời khảo sát hồi đáp hỏi thông qua hai kiểu cơ bản là hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực.
Về phạm vi nghiên cứu, luận án giới hạn ở hành động hỏi trực tiếp (không đi sâu vào hành động hỏi gián tiếp do khảo sát thực tế không ghi nhận được ngữ liệu phù hợp) và giới hạn sự chi phối của lí thuyết phân tầng xã hội ở ba biến số: tuổi, giới, địa vị. Về không gian và thời gian tư liệu, luận án khai thác các phát ngôn giao tiếp tiếng Việt đời thường từ các cuộc ghi âm thực tế tại trường học, công sở trong bối cảnh chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 kéo dài từ cuối năm 2020 đến khi hoàn thành luận án, kết hợp ngữ liệu từ chương trình truyền hình thực tế "Thương vụ bạc tỉ" và các tác phẩm văn học hiện đại có lý lịch nhân vật xác thực.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả tổng thuật lịch sử nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi theo hai hướng tiếp cận chính:
Thứ nhất, hướng tiếp cận từ lí thuyết hành động ngôn ngữ trong ngữ dụng học:
- Các giáo trình và chuyên khảo ngữ dụng học tiêu biểu của Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học, tập 2), Nguyễn Thiện Giáp (Dụng học Việt ngữ, tập 1), Nguyễn Đức Dân (Ngữ dụng học, tập 1) đã đặt nền móng về hai thành phần ngữ nghĩa của phát ngôn (hiệu lực ở lời và nội dung mệnh đề), bốn điều kiện sử dụng hành vi ở lời của J. Searle (nội dung mệnh đề, chuẩn bị, chân thành, căn bản), mối quan hệ trực tiếp – gián tiếp giữa cấu trúc và chức năng, cùng các dấu hiệu ngữ vi của hành vi hỏi.
- Các luận án và chuyên khảo chuyên sâu về câu hỏi trong tiếng Việt gồm: luận án của Nguyễn Thị Thìn (1994) về câu nghi vấn không dùng để hỏi; luận án của Nguyễn Thị Lương (1995) về một số tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi; luận án của Lê Đông (1996) về ngữ nghĩa – ngữ dụng câu hỏi chính danh; luận án của Lê Thị Thu Hoài (2013) về câu hỏi tu từ; chuyên khảo của Lê Anh Xuân (1999) về câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn; chuyên khảo của Đặng Thị Hảo Tâm (2008) về hành động ngôn từ gián tiếp.
- Các nghiên cứu hành động hỏi trong các bối cảnh cụ thể: Mai Thị Kiều Phượng (2007) trong giao tiếp mua bán; Phạm Thị Như Hoa (2015) qua thơ Chế Lan Viên và Tố Hữu; Đàm Thị Ngọc Hà (2017) trong kịch Lưu Quang Vũ; Nguyễn Thị Hồng Ngân (2010) trong hội thoại dạy học.
- Các nghiên cứu đối chiếu: Hoàng Thị Yến (2014) khảo sát hành động hỏi trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt; Trần Phúc Trung (2011) khảo sát hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn của VTV và TV5; cùng các luận án về thành phần rào đón ở hành vi hỏi và hồi đáp.
Thứ hai, hướng tiếp cận từ lí thuyết phân tầng xã hội của ngôn ngữ học xã hội:
- Các nghiên cứu quốc tế: W. P. Robinson và Susan J. Rackstraw (1967, 1972) dựa trên lí thuyết về quy tắc sử dụng ngôn ngữ hạn chế và chi tiết của B. Bernstein (1971) để chỉ ra sự khác biệt trong việc đặt câu hỏi và trả lời của các bà mẹ và trẻ em thuộc tầng lớp trung lưu so với tầng lớp lao động tại Anh; Linnea Rask (2014) tại Đại học Halmstad khảo sát 13 cuộc phỏng vấn trong chương trình The Andrew Marr Show (BBC One) chỉ ra sự khác biệt giới về độ dài câu trả lời, mức độ biểu đạt sự không chắc chắn và tính lịch sự trong đàm thoại.
- Các nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Văn Khang chủ biên (1996) nghiên cứu ứng xử ngôn ngữ trong gia đình người Việt, chỉ rõ tác động của giới tính và tuổi tác; Phạm Thị Hà (2013) phân tích hành vi khen và tiếp nhận lời khen theo giới; Mai Thị Kiều Phượng (2007) khảo sát từ xưng hô theo vai giao tiếp trong mua bán; Lương Thị Hiền (2014) phân tích các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong ngôn ngữ hành chính qua hoạt động xét hỏi tại tòa án; Hoàng Việt Anh (2015) nghiên cứu yếu tố giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua tác phẩm của Vũ Trọng Phụng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát hành động hỏi đơn lẻ hoặc tiếp cận câu hỏi thuần túy về mặt hình thức cú pháp, ngữ nghĩa, hoặc chỉ xem xét một biến xã hội biệt lập (như giới tính hoặc quyền lực) trong một phạm vi giao tiếp hạn chế. Luận án đặt cặp tương tác hỏi – hồi đáp hỏi trong mối quan hệ gắn kết của quy trình hội thoại hoàn chỉnh và khảo sát đồng thời ba nhân tố phân tầng xã hội nòng cốt gồm tuổi, giới và địa vị trên nguồn ngữ liệu giao tiếp tiếng Việt đa dạng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lí luận dựa trên sự tích hợp của ba hệ thống lí thuyết:
- Lí thuyết hành động ngôn ngữ và hành động hỏi: Vận dụng quan điểm của J. Austin, J. Searle, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn Đức Dân. Luận án phân biệt ba loại hành động ngôn ngữ: hành động tạo lời (locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act) và hành động ở lời (illocutionary act). Hành động hỏi được định vị là hành động ở lời thuộc nhóm điều khiển (directives), có đích ở lời là yêu cầu người nghe cung cấp thông tin. Để nhận diện hành động hỏi, tác giả dựa vào bốn điều kiện sử dụng (nội dung mệnh đề, chuẩn bị, chân thành, căn bản) và các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs) gồm: kết cấu hỏi (câu hỏi tổng quát, câu hỏi chuyên biệt/bộ phận, câu hỏi lựa chọn); các từ ngữ chuyên dùng (đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, sao, bao nhiêu, mấy, bao lâu, đâu; phụ từ nghi vấn: có... không, đã... chưa; quan hệ từ lựa chọn hay; tiểu từ tình thái dứt câu: à, ư, nhỉ, nhé, hả, cơ); ngữ điệu và động từ ngữ vi hỏi. Luận án khu biệt hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp, chọn khảo sát hành động hỏi trực tiếp.
- Lí thuyết hội thoại và tương tác hỏi – đáp: Dựa trên lí thuyết hội thoại của Đỗ Hữu Châu với ba vận động cơ bản: trao lời, trao đáp và tương tác. Hồi đáp hỏi được xem là phản ứng bằng lời bắt buộc đối với hành động hỏi, được chia thành hai kiểu: hồi đáp tích cực (tham thoại trực tiếp hoặc gián tiếp, được ưu tiên, phù hợp, làm thỏa mãn đích của người hỏi) và hồi đáp tiêu cực (tham thoại trực tiếp hoặc gián tiếp, bị đánh dấu, không phù hợp, không làm thỏa mãn đích của người hỏi).
- Lí thuyết phương ngữ xã hội và phân tầng xã hội: Luận án tiếp thu định nghĩa phương ngữ xã hội của Nguyễn Văn Khang (ngôn ngữ của một nhóm người tương đồng về các yếu tố xã hội); mô hình phân tầng xã hội ba chiều của M. Weber (địa vị kinh tế/tài sản, địa vị chính trị/quyền lực, địa vị xã hội/uy tín) qua nghiên cứu của Nguyễn Đình Tấn (2005); phân biệt đặc điểm quy gán (tuổi, giới) và đặc điểm có được (địa vị, nghề nghiệp, học vấn). Tác giả vận dụng bảng phân loại 8 nhân tố xã hội của Nguyễn Văn Khang, chọn nhóm 1 gồm ba nhân tố có sức tác động mạnh nhất đến giao tiếp tiếng Việt: tuổi (nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên, người cao tuổi), giới (nam, nữ theo Luật Bình đẳng giới 2006) và địa vị (vai trên – vai dưới, ngang vai, vai dưới – vai trên).
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp miêu tả: Sử dụng thủ pháp thống kê và phân loại để định lượng tần suất xuất hiện của các chủ đề hỏi, biểu thức hỏi và kiểu hồi đáp; kết hợp thủ pháp phân tích thành tố nghĩa nhằm xác định hàm ý và sắc thái của phát ngôn trong từng hoàn cảnh giao tiếp.
- Phương pháp khảo sát: Thu thập các cặp phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua ghi âm thực tế tại các trường học, công ty; ghi chép diễn ngôn từ video chương trình truyền hình thực tế "Thương vụ bạc tỉ"; trích chọn các đoạn thoại trong tác phẩm văn học có lý lịch nhân vật được xác định theo tuổi, giới, địa vị.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích các cuộc thoại trong mối liên hệ hữu cơ với ngữ cảnh, các quy tắc hội thoại và các tham số quyền lực, tuổi tác, giới tính.
Nguồn dữ liệu của luận án gồm 1106 phát ngôn hỏi và các cặp hồi đáp tương ứng được khảo sát và mã hóa văn bản từ ba nguồn tư liệu: thực tế đời sống, truyền hình và văn học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 có nhiệm vụ hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu và thiết lập khung lí thuyết cho toàn bộ luận án. Tác giả đã tổng thuật tường minh hai mảng tài liệu lớn: hướng tiếp cận hành động hỏi từ lí thuyết hành động ngôn ngữ và hướng tiếp cận từ lí thuyết phân tầng xã hội của ngôn ngữ học xã hội.
Về cơ sở lí thuyết, chương 1 trình bày chi tiết nội hàm các khái niệm: hành động ngôn ngữ (hành động tạo lời, mượn lời, ở lời; các điều kiện sử dụng của Searle; các phương tiện biểu thị hiệu lực ở lời; phân loại hành vi trực tiếp và gián tiếp); đặc điểm của hành động hỏi (điều kiện nội dung mệnh đề, chuẩn bị, chân thành, căn bản; các kết cấu hỏi tổng quát, chuyên biệt, lựa chọn; hệ thống từ ngữ nghi vấn và tiểu từ tình thái tiếng Việt; động từ ngữ vi và ngữ điệu hỏi); lí thuyết hội thoại (khái niệm, đơn vị hội thoại, ba vận động trao lời - trao đáp - tương tác, quan niệm về cặp thoại hỏi - hồi đáp hỏi với hai phân loại hồi đáp tích cực và tiêu cực); phương ngữ xã hội và phân tầng xã hội (nguyên tắc tiếp cận ba chiều của M. Weber, đặc điểm quy gán và đặc điểm có được theo Nguyễn Đình Tấn, thang phân loại 8 nhân tố của Nguyễn Văn Khang). Từ đó, tác giả luận giải căn cứ khoa học của việc lựa chọn ba biến số tuổi, giới và địa vị để khảo sát thực nghiệm trong các chương kế tiếp.
Chương 2. Đặc điểm của hành động hỏi xét từ góc độ phân tầng xã hội
Chương 2 khảo sát chi tiết 1106 phát ngôn hỏi trực tiếp thu thập được từ thực tế, phân loại các chủ đề hỏi, các biểu thức hỏi và phân tích sự chi phối của ba nhân tố tuổi, giới, địa vị đối với hành động hỏi.
Qua thống kê, tác giả phân chia các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi thành 7 nhóm với tần suất cụ thể: Công việc: 250 phát ngôn (22,6%); Gia đình: 221 phát ngôn (20,0%); Tình cảm: 207 phát ngôn (18,7%); Học tập: 118 phát ngôn (10,7%); Bạn bè: 112 phát ngôn (10,1%); Các chủ đề khác: 107 phát ngôn (9,7%); Sở thích: 91 phát ngôn (8,2%).
Bảng số liệu tổng hợp số lượng chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi xét từ góc độ tuổi (Bảng 2.1 trong văn bản luận án) được thể hiện như sau:
| Nhóm chủ đề |
Nhi đồng |
Thiếu niên |
Thanh niên |
Trung niên |
Người cao tuổi |
Tổng số phát ngôn |
Tỉ lệ (%) |
| Công việc |
0 (0%) |
10 (4%) |
101 (30%) |
98 (38%) |
41 (26,5%) |
250 |
22,6% |
| Gia đình |
22 (20,5%) |
45 (18%) |
68 (20%) |
52 (20%) |
34 (22%) |
221 |
20,0% |
| Tình cảm |
0 (0%) |
28 (11,5%) |
82 (24%) |
65 (25%) |
32 (20,5%) |
207 |
18,7% |
| Học tập |
25 (23%) |
65 (26,5%) |
20 (6%) |
5 (2%) |
3 (2%) |
118 |
10,7% |
| Bạn bè |
20 (18,5%) |
36 (15%) |
21 (6%) |
21 (8%) |
14 (9%) |
112 |
10,1% |
| Sở thích |
20 (18,5%) |
28 (11%) |
20 (6%) |
15 (6%) |
8 (5%) |
91 |
8,2% |
| Các chủ đề khác |
21 (19,5%) |
34 (14%) |
28 (8%) |
16 (6,5%) |
8 (5%) |
107 |
9,7% |
| Tổng cộng |
108 (100%) |
246 (100%) |
340 (100%) |
257 (100%) |
155 (100%) |
1106 |
100% |
Từ kết quả thực nghiệm, chương 2 rút ra các luận điểm quan trọng:
- Về độ tuổi: Mức độ quan tâm đến các chủ đề trong đời sống tăng nhanh từ lứa tuổi nhỏ đến tuổi trưởng thành (từ 108 phát ngôn ở nhi đồng lên 246 phát ngôn ở thiếu niên và đạt đỉnh 340 phát ngôn ở thanh niên), sau đó giảm dần khi bước sang trung niên (257 phát ngôn) và người cao tuổi (155 phát ngôn). Nhóm tuổi thanh niên có mối quan tâm rộng và phong phú nhất đối với các chủ đề xã hội. Trẻ em nhi đồng hoàn toàn không xuất hiện câu hỏi về công việc và tình cảm (0%), tập trung chủ yếu vào học tập (23%), gia đình (20,5%), bạn bè (18,5%) và sở thích (18,5%). Thiếu niên quan tâm nhiều nhất đến học tập (26,5%). Ngược lại, người ở độ tuổi thanh niên và trung niên dành mối quan tâm vượt trội cho công việc (lần lượt chiếm 30% và 38%), tình cảm và gia đình.
- Về giới tính: Luận án phân tích sự chi phối của biến số giới đối với nội dung và phương thức hỏi. Nữ giới có xu hướng thực hiện hành động hỏi về các chủ đề tình cảm, quan hệ gia đình, đời sống riêng tư và các khía cạnh biểu cảm; sử dụng nhiều yếu tố rào đón, tiểu từ tình thái giảm nhẹ tính áp đặt. Nam giới thể hiện mối quan tâm nổi bật đến công việc, địa vị, các vấn đề chuyên môn và xã hội; biểu thức hỏi của nam giới thường mang tính trực diện, rõ ràng và bộc trực hơn.
- Về địa vị xã hội: Phân tích hành động hỏi theo ba nhóm tương tác (vai trên – vai dưới, ngang vai, vai dưới – vai trên). Người ở vai trên chủ động thực hiện hành động hỏi với tần suất cao về công việc, tiến độ, kiểm tra và điều khiển hội thoại; sử dụng các biểu thức hỏi trực tiếp, ít kèm rào đón. Người ở vai dưới khi hỏi người vai trên thường sử dụng biểu thức hỏi gián tiếp hoặc câu hỏi có kèm tiểu từ tình thái biểu thị sự kính trọng (ạ, thưa), tránh các câu hỏi gây tổn thương thể diện đối tượng giao tiếp. Quan hệ ngang vai có tính cởi mở, tự do lựa chọn chủ đề và cấu trúc hỏi.
- Về các nhóm biểu thức hỏi: Tác giả phân loại và khảo sát ba nhóm biểu thức hỏi nòng cốt gồm biểu thức hỏi tổng quát, biểu thức hỏi chuyên biệt và biểu thức hỏi lựa chọn. Mức độ sử dụng các cấu trúc này có sự phân hóa rõ nét theo lứa tuổi (Bảng 2.4, 2.5, 2.6 trong danh mục), giới tính và các tầng bậc vị thế xã hội.
Chương 3. Đặc điểm của hồi đáp hỏi xét từ góc độ phân tầng xã hội
Chương 3 đi sâu nghiên cứu vế thứ hai của cặp thoại: các kiểu hồi đáp cho hành động hỏi dưới sự tác động của ba nhân tố tuổi, giới và địa vị.
Chương này phân loại hệ thống hồi đáp thành hai kiểu loại căn bản:
- Hồi đáp tích cực: Người đáp cung cấp câu trả lời trực tiếp (CTLTT) hoặc câu trả lời gián tiếp (CTLGT) đáp ứng nội dung mà người hỏi yêu cầu, qua đó làm thỏa mãn đích ở lời của hành động hỏi.
- Hồi đáp tiêu cực: Người đáp không cung cấp thông tin cần thiết, từ chối trả lời, trì hoãn, lảng tránh sang chủ đề khác hoặc sử dụng sự im lặng; không làm thỏa mãn đích ở lời của người hỏi.
Tác giả lần lượt phân tích hồi đáp hỏi qua các lát cắt:
- Phân tích hồi đáp hỏi từ góc độ tuổi (đối chiếu Bảng 3.1 và 3.2): Trẻ em (nhi đồng, thiếu niên) có xu hướng hồi đáp trực tiếp, mức độ sử dụng câu trả lời gián tiếp hoặc né tránh thấp. Người lớn tuổi (thanh niên, trung niên) sử dụng phong phú các chiến lược hồi đáp gián tiếp, uyển chuyển phù hợp ngữ cảnh. Người cao tuổi khi hồi đáp người ít tuổi hơn thường sử dụng quyền uy thế hệ, câu trả lời thường kèm theo lời khuyên bảo, giải thích mở rộng mang tính định hướng đạo đức.
- Phân tích hồi đáp hỏi từ góc độ giới (đối chiếu Bảng 3.3 và 3.4): Tương đồng với nghiên cứu của Linnea Rask được dẫn ở phần tổng quan, phụ nữ có độ dài câu trả lời trung bình lớn hơn nam giới, đưa ra nhiều thông tin giải thích kèm theo, quan tâm đến việc giữ gìn quan hệ giao tiếp và sử dụng nhiều phương tiện ngôn ngữ biểu thị sự mềm mỏng, lịch sự. Nam giới có xu hướng hồi đáp ngắn gọn, trực tiếp, tập trung vào sự kiện và thông tin cốt lõi, ít dùng từ ngữ rào đón.
- Phân tích hồi đáp hỏi từ góc độ địa vị (đối chiếu Bảng 3.5 và 3.6): Yếu tố quyền lực thể hiện rất rõ nét trong cách thức hồi đáp. Người ở vai dưới khi hồi đáp người ở vai trên hầu như sử dụng kiểu hồi đáp tích cực, tuân thủ tối đa phương châm cộng tác hội thoại, bổ sung các dấu hiệu tôn kính (dạ, vâng, thưa, ạ); nếu rơi vào tình huống không thể cung cấp thông tin, người vai dưới phải đưa ra các lí do khách quan để xoa dịu hành động từ chối. Ngược lại, người ở vai trên đối với người vai dưới có quyền lực hội thoại cao hơn, tỉ lệ xuất hiện hồi đáp tiêu cực (từ chối cung cấp thông tin, bắt bẻ cách hỏi, hỏi ngược lại để chất vấn hoặc bỏ lửng) cao hơn rõ rệt. Quan hệ ngang vai thể hiện sự đối thoại bình đẳng, linh hoạt và tranh luận thẳng thắn.
Trong phần cuối chương 3, tác giả tổng hợp sự chi phối của phân tầng xã hội: Tuổi tác là nhân tố chi phối mạnh mẽ nhất đến chuẩn mực lễ phép và các từ ngữ xưng hô trong hồi đáp; giới tính tạo nên phong cách hồi đáp mang tính phân cực (mềm mỏng, giải thích so với ngắn gọn, trực diện); địa vị xã hội quy định mức độ bình đẳng hay bất bình đẳng trong quyền kiểm soát lượt lời và quyền chấp nhận hay từ chối thỏa mãn đích hỏi.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ vào nội dung tác giả trình bày trong luận án, các kết quả và đóng góp mới gồm:
Về mặt lí luận:
- Luận án đã làm sáng tỏ một cách toàn diện đặc điểm của cặp hành động tương tác hỏi – hồi đáp hỏi trong tiếng Việt dưới sự chi phối đồng thời của ba nhân tố phân tầng xã hội then chốt: tuổi, giới và địa vị.
- Công trình chứng minh tính phù hợp và hiệu quả của việc kết hợp khung lí thuyết hành động ngôn ngữ (Speech acts), lí thuyết hội thoại với lí thuyết phân tầng xã hội của ngôn ngữ học xã hội trong việc phân tích các hiện tượng giao tiếp tiếng Việt.
- Luận án khẳng định bản chất xã hội của ngôn ngữ: hành vi nói năng và sự lựa chọn biểu thức ngôn từ không chỉ là hoạt động nhận thức cá nhân mà là sự phản chiếu trung thực cơ cấu xã hội, trật tự tôn ti và các chuẩn mực văn hóa ứng xử của cộng đồng người Việt.
Về mặt thực tiễn:
- Luận án đã xây dựng được một bộ tư liệu thực nghiệm gồm 1106 phát ngôn hỏi và các cặp hồi đáp tương ứng, cung cấp những thống kê định lượng về sự phân bố của 7 nhóm chủ đề hỏi, tần suất các biểu thức hỏi và các kiểu loại hồi đáp tích cực – tiêu cực theo từng nhóm tuổi, giới tính và vị thế xã hội.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở ngữ liệu và luận cứ khoa học ứng dụng trực tiếp cho việc giảng dạy tiếng Việt (bao gồm giảng dạy tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ và giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ), đặc biệt trong các học phần Ngữ dụng học, Ngôn ngữ học xã hội, Phân tích diễn ngôn và Giao tiếp học.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Vận dụng các phát hiện của luận án vào việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp xã hội, nâng cao khả năng lựa chọn biểu thức hỏi và chiến lược hồi đáp phù hợp với ngữ cảnh, vai giao tiếp, vị thế và độ tuổi của đối tượng hội thoại.
- Ứng dụng các quy tắc tương tác hỏi – đáp vào các lĩnh vực giao tiếp chuyên biệt như phỏng vấn truyền hình, đàm phán kinh doanh, xét hỏi tư pháp và giao tiếp công vụ nhằm đảm bảo tính chuẩn mực và hiệu quả thông tin.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tự nêu các điểm sau:
- Quá trình thu thập ngữ liệu thực tế gặp khó khăn khách quan do dịch bệnh Covid-19 kéo dài từ cuối năm 2020 cho đến khi hoàn thành luận án, khiến khối lượng ngữ liệu ghi âm trực tiếp ngoài đời sống không đạt số lượng lớn như dự kiến ban đầu, tác giả phải bổ sung nguồn ngữ liệu từ chương trình truyền hình thực tế "Thương vụ bạc tỉ" và các tác phẩm văn học.
- Luận án chỉ khảo sát hành động hỏi trực tiếp do khảo sát thực tế không thu thập được các trường hợp hành động hỏi gián tiếp (thực hiện hành động hỏi thông qua một cấu trúc phát ngôn khác).
- Về phạm vi phân tầng xã hội, luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu sâu ba nhân tố thuộc nhóm tác động mạnh nhất (tuổi, giới, địa vị), chưa khảo sát năm nhân tố xã hội còn lại (nghề nghiệp, học vấn, vùng miền, tôn giáo, thu nhập).
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Khi điều kiện thực địa thuận lợi, mở rộng thu thập ngữ liệu tự nhiên trong các môi trường giao tiếp đa dạng để tìm kiếm và phân tích sâu hành động hỏi gián tiếp.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các biến số xã hội khác như nghề nghiệp, trình độ học vấn và sự khác biệt phương ngữ vùng miền tác động đến hành động hỏi và hồi đáp hỏi.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt Nam học, Sư phạm Ngữ văn: Đây là tài liệu tham khảo bổ ích về phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa ngữ dụng học và ngôn ngữ học xã hội, cung cấp mô hình xử lí ngữ liệu tương tác hội thoại theo các biến số xã hội. Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống tiêu chí nhận diện hành động hỏi, bảng phân loại chủ đề và mô hình phân loại hồi đáp tích cực – tiêu cực.
- Giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn: Cung cấp nguồn ngữ liệu thực nghiệm sinh động và các bảng số liệu thống kê chi tiết (đặc biệt là Bảng 2.1 về mối quan hệ giữa độ tuổi và chủ đề hỏi) để phục vụ giảng dạy các chuyên đề về lí thuyết hành động nói, ngữ cảnh giao tiếp và phương ngữ xã hội.
- Những người làm công tác truyền thông, phóng viên, người dẫn chương trình, chuyên viên nhân sự và đàm phán: Luận án cung cấp các chỉ dẫn thực tế về cơ chế điều khiển lượt lời, mức độ tác động của quyền lực và tuổi tác đến tâm lí người đối thoại, giúp thiết kế câu hỏi phỏng vấn và chiến lược hồi đáp đạt hiệu quả cao.
Câu hỏi thường gặp
Dưới đây là các câu hỏi cụ thể về nội dung luận án và câu trả lời dựa trên các dữ kiện trong văn bản:
1. Vì sao luận án chỉ lựa chọn ba nhân tố tuổi, giới và địa vị để khảo sát mà không khảo sát toàn bộ 8 nhân tố phân tầng xã hội?
Trả lời: Căn cứ vào bảng phân loại 8 nhân tố phân tầng xã hội tác động đến giao tiếp của người Việt do Nguyễn Văn Khang đề xuất (gồm: tuổi, giới, địa vị, nghề nghiệp, học vấn, vùng miền, tôn giáo, thu nhập), tác giả đã chọn nhóm 1 gồm ba nhân tố có sức tác động mạnh nhất là tuổi, địa vị và giới. Trong văn hóa giao tiếp của người Việt, tuổi tác là biến số chi phối hàng đầu ("kính trên nhường dưới", "ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ"), kế đến là trật tự tôn ti quyền lực/địa vị và yếu tố giới tính. Do đó, luận án tập trung khảo sát ba nhân tố này để làm rõ sự chi phối mạnh mẽ nhất đối với nội dung và mục đích giao tiếp.
2. Tổng số phát ngôn khảo sát của luận án là bao nhiêu và được lấy từ những nguồn tư liệu cụ thể nào?
Trả lời: Tổng số phát ngôn hỏi được luận án khảo sát và thống kê là 1106 phát ngôn (cùng các cặp hồi đáp tương ứng). Nguồn tư liệu được trích xuất từ ba nguồn: ngữ liệu ghi âm thực tế đời sống tại một số công ty, trường học; ngữ liệu từ chương trình truyền hình thực tế "Thương vụ bạc tỉ" (Shark Tank Vietnam); và ngữ liệu trích từ các tác phẩm văn học hiện đại của các tác giả Việt Nam có hồ sơ nhân vật xác định rõ tuổi, giới tính và địa vị.
3. Trong 1106 phát ngôn hỏi được khảo sát, ba nhóm chủ đề nào xuất hiện với tần suất cao nhất?
Trả lời: Trong 7 nhóm chủ đề được phân loại, ba nhóm chủ đề xuất hiện nhiều nhất là: chủ đề Công việc với 250 phát ngôn (chiếm 22,6%), chủ đề Gia đình với 221 phát ngôn (chiếm 20,0%), và chủ đề Tình cảm với 207 phát ngôn (chiếm 18,7%). Bốn nhóm chủ đề còn lại chiếm tỉ lệ thấp hơn gồm: Học tập (118 phát ngôn - 10,7%), Bạn bè (112 phát ngôn - 10,1%), Các chủ đề khác (107 phát ngôn - 9,7%), và Sở thích (91 phát ngôn - 8,2%).
4. Luận án định nghĩa và phân chia các kiểu hồi đáp cho hành động hỏi như thế nào?
Trả lời: Luận án phân chia hồi đáp hỏi thành hai kiểu: Hồi đáp tích cực (là tham thoại trực tiếp hoặc gián tiếp, được ưu tiên, phù hợp, làm thỏa mãn đích của người hỏi bằng cách cung cấp câu trả lời trực tiếp CTLTT hoặc gián tiếp CTLGT) và Hồi đáp tiêu cực (là tham thoại trực tiếp hoặc gián tiếp, bị đánh dấu, không phù hợp, không làm thỏa mãn đích của người hỏi thông qua việc từ chối, né tránh, hoãn trả lời, chuyển đề tài hoặc im lặng).
5. Tại sao luận án không nghiên cứu hành động hỏi gián tiếp?
Trả lời: Trong phần đối tượng, phạm vi nghiên cứu và dẫn nhập chương 2, tác giả nêu rõ qua quá trình khảo sát và thu thập ngữ liệu thực tế, nghiên cứu không tìm thấy các trường hợp sử dụng hành động ngôn ngữ khác để thực hiện mục đích hỏi (hành động hỏi gián tiếp). Vì vậy, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chuyên sâu vào hành động hỏi trực tiếp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Đoan Trang đã giải quyết có hệ thống vấn đề đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt trên cơ sở kết hợp lí thuyết hành động ngôn ngữ và lí thuyết phân tầng xã hội. Thông qua khảo sát thực nghiệm 1106 phát ngôn từ đời sống thực tế, truyền hình và văn học, công trình đã làm sáng tỏ sự phân bố của 7 nhóm chủ đề hỏi, các loại biểu thức hỏi và hai mô thức hồi đáp tích cực – tiêu cực dưới sự chi phối của ba nhân tố nòng cốt: tuổi, giới và địa vị. Kết quả nghiên cứu xác nhận vai trò quyết định của cấu trúc phân tầng xã hội và truyền thống văn hóa tôn ti đối với các chiến lược lựa chọn ngôn từ của người Việt. Luận án mang lại những đóng góp rõ ràng về mặt lí luận cho ngữ dụng học xã hội tiếng Việt, đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị cho hoạt động giảng dạy và thực hành giao tiếp xã hội.