Chương 1: giới thiệu tổng quát bối cảnh nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, đối tượng - phạm vi nghiên cứu, các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được. 7 Chương 2: trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến BHYT, lý thuyết giải thích cho việc tham gia BHYT tư nhân, lược khảo các nghiên cứu về chủ đề này. Trên nền tảng đó, xây dựng khung phân tích và đặt ra các giả thuyết cho nghiên cứu. Chương 3: trình bày khái quát phương pháp nghiên cứu, mô hình định lượng trong nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu.
Chương 4: mô tả dữ liệu khảo sát, đưa ra những kết quả thu được từ phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết. Chương 5: phần kết luận, đóng góp của đề tài, những mặt hạn chế của nghiên cứu và những đề xuất mang tính gợi mở nhằm cải thiện ý định tham gia BHYT tư nhân của người dân. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày tổng quan các khái niệm liên quan đến BHYT nhà nước, BHYT tư nhân; các lý thuyết giải thích cho việc tham gia BHYT tư nhân và lược khảo các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này để có cách tiếp cận phù hợp. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ: Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (09/12/2000) thì “kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Chúng ta có thể hiểu khái quát “bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do rủi ro phát sinh trong thời gian thoả thuận hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên với điều kiện người được bảo hiểm đã nộp khoản tiền phí bảo hiểm”. Một trong những đặc tính quan trọng của sức khoẻ là tính bất định, và bởi vì mối liên hệ mật thiết giữa dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và sức khoẻ, tính bất định của sức khoẻ kéo theo tính bất định trong chi tiêu cho dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Trực giác ban đầu sẽ nói với chúng ta rằng chính vì tính bất định này mà chúng ta cần bảo hiểm sức khoẻ, hay chính xác hơn là bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, thực tế có thể cũng sẽ mách bảo chúng ta cần bảo hiểm sức khoẻ bởi vì chúng ta cần khoản tài chính nhận được từ bảo hiểm sức khoẻ để chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cần thiết để chữa bệnh cho mình.
BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, hiện nay Việt Nam có 2 loại hình BHYT: - BHYT nhà nước, mang tính xã hội không vì mục đích lợi nhuận và được Nhà nước tổ chức thực hiện theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH/13 ngày 13/6/2014. Mọi người dân phải bắt buộc tham gia BHYT theo Luật BHYT. 9 - BHYT tư nhân (sản phẩm bảo hiểm sức khoẻ của các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ), mang tính kinh doanh, hoạt động có lợi nhuận theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngay 09/12/2000 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010. Hiện tại có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai loại hình BHYT này.
Trên thị trường bảo hiểm hiện nay, sản phẩm bảo hiểm sức khoẻ của các doanh nghiệp bảo hiểm rất đa dạng (cả doanh nghiệp trong và ngoài nước) để khách hàng tuỳ chọn. Tuy nhiên gói bảo hiểm sức khoẻ phổ biến nhất có hai nhóm chính là chương trình bảo hiểm phổ thông và bảo hiểm cao cấp. Cụ thể, chương trình bảo hiểm phổ thông phù hợp cho việc điều trị, khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập, tư nhân, quốc tế trong nước. Còn gói bảo hiểm cao cấp hướng tới đối tượng khách hàng có điều kiện tài chính tốt, thường xuyên thăm khám, sử dụng dịch vụ tại các bệnh viện cao cấp trong và ngoài nước.
Theo Công ty tư vấn chiến lược phát triển quốc tế thì tốc độ gia tăng dân số người cao tuổi ở Việt Nam vào khoảng 3,4%/năm cho đến năm 2020. Quá trình già hóa dân số đang diễn ra, kéo theo sự gia tăng số ca mắc bệnh mãn tính và tăng chi phí y tế. Hiện nay, chi tiêu chăm sóc sức khoẻ bình quân của người Việt ước tăng từ 133 USD/năm 2016 lên 183 USD/năm 2020. Xu hướng này dự đoán tiếp tục tăng trong bối cảnh nhà nước cho thực thi các chính sách chăm sóc sức khỏe phổ thông và phát triển cơ sở hạ tầng y tế từ năm 2018 này.
Sự gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ tốt hơn tại Việt Nam hiện nay, là động lực để các công ty bảo hiểm không chỉ mở gói sản phẩm bảo hiểm sức khoẻ có quyền lợi hấp dẫn thiết thực, mà còn xây dựng và phát triển hệ thống kết nối với các bệnh viện lớn và bệnh viện chất lượng cao. LÝ THUYẾT NHU CẦU VỀ SỨC KHOẺ: 2. Mô hình Grossman (cầu sức khoẻ và dịch vụ y tế): 10 Nếu đồng ý xem sức khoẻ là một tài sản có thể sản xuất được, việc tạo ra sức khoẻ có thể coi như một sự đầu tư bù đắp cho phần vốn đã bị tiêu tốn vì tuổi tác và lối sống, và tạo nên một sự gia tăng trong “vốn sức khoẻ”. Việc đầu tư này đạt được nhờ sử dụng các dịch vụ y tế (chữa bệnh) và những nỗ lực của cá nhân trong việc phòng bệnh.
Lợi ích thu được từ vốn sức khoẻ chính là việc giảm thiểu thời gian ở trong một trạng thái sức khoẻ “đau ốm”. Thời gian khoẻ mạnh thu được có thể làm tăng mức thoả dụng một cách gián tiếp hay trực tiếp qua mức thu nhập lao động cao hơn, và nhờ đó làm tăng tiêu dùng. Những cá nhân lý trí sẽ tối đa hoá mức thoả dụng bằng cách sử dụng theo cách tối ưu lượng vốn sức khoẻ trong cuộc đời họ. Mô hình nghiên cứu của Grossman (1972b) chỉ ra ảnh hưởng của độ tuổi, thu nhập tiền lương và trình độ học vấn là các yếu tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu tối ưu hoá vốn sức khoẻ của con người.
Grossman (1972b) đã xây dựng mô hình nhu cầu về hàng hoá “sức khoẻ tốt”, trung tâm của mô hình là sức khoẻ được xem như cổ phiếu vốn bền vững tạo ra sản phẩm khoẻ mạnh theo thời gian. Giả định rằng các cá nhân kế thừa một lượng sức khoẻ ban đầu giảm đi theo độ tuổi và được tăng lên bằng cách đầu tư. Trong khung mô hình này, “giá ẩn” của sức khoẻ phụ thuộc vào nhiều biến số khác ngoài mức giá chăm sóc y tế. Điều này cho thấy “giá ẩn” tăng lên theo độ tuổi nếu tỷ lệ khấu hao vốn sức khoẻ tăng lên trong suốt chu kỳ sống và ngược lại đối với giáo dục, nếu người có học vấn cao và xem là yếu tố sản xuất sức khoẻ.
Xét một cá nhân với một kế hoạch gồm hai giai đoạn, trong mỗi giai đoạn họ trải qua một lượng thời gian đau ốm , nếu vốn sức khoẻ càng lớn thì khoảng thời gian này càng ít đi. Nói cách khác, thời gian khoẻ mạnh chính là những lợi ích của vốn sức khoẻ. Cá nhân đó nhận được mức thoả dụng dương từ những hàng hoá tiêu dùng X và những mức thoả dụng âm từ thời gian đau ốm. Hàm thoả dụng dựa trên những đìều kiện này được giả định là không phụ thuộc vào thời gian (tỷ lệ thay thế biên giữa thời gian đau ốm và tiêu dùng không thay đổi theo thời gian).
Mức thoả dụng trong tương lai được chiết khấu bằng một yếu tố giả định. Nhờ đó, cá nhân được tối đa hoá mức thoả dụng đã chiết khấu. 11 Hàm thoả dụng của cá nhân với lượng vốn sức khoẻ: (1) Thành phần quan trọng của mô hình Grossman là phương trình thể hiện sự thay đổi lượng vốn sức khoẻ qua thời gian. Một mặt, vốn sức khoẻ hao mòn với tỷ lệ , khiến sức khoẻ giảm xuống theo thời gian, tỷ lệ hao mòn này không cố định theo thời gian.
Mặt khác, cá nhân này có thể tăng vốn sức khoẻ bằng cách đầu tư. Mức đầu tư này bao gồm việc tiêu dùng cho dịch vụ y tế và khoảng thời gian dành cho những nỗ lực phòng bệnh. Gộp lại ta có: (2) Phương trình trên tạo nên một ràng buộc trong vấn đề tối ưu hoá cá nhân, tỷ lệ khấu hao xem như biến ngoại sinh nhưng nó có thể thay đổi theo độ tuổi của cá nhân. Tuy vậy, không chỉ sức khoẻ thay đổi theo thời gian mà ngoài ra còn tài sản (sự sung túc) và kiến thức (học vấn, kỹ năng chẳng hạn) cũng thay đổi.
Cụ thể, mức tiết kiệm có được trong giai đoạn đầu có thể được tiêu dùng trong giai đoạn thứ hai. Tiết kiệm cho mức lãi suất và trở thành với. Với phương trình trên, việc đầu tư vào sức khoẻ chỉ diễn ra trong suốt giai đoạn đầu. Từ vấn đề bảo hiểm sức khoẻ, điều này có nghĩa là những chi tiêu cho chăm sóc sức khoẻ phải được tài trợ bởi thu nhập lao động hay một mức tài sản ban đầu với là mức lương trong giai đoạn đầu và là giá cả của dịch vụ y tế.
Ngược lại, tiêu dùng (ở mức giá ) phải dương ở cả hai giai đoạn. Quy ước tổng thời gian là 1, gộp lại ta có ràng buộc về ngân sách sau khi chiết khấu như sau: ( ) (3) 12 Để giải bài toán tối ưu này, ta viết hàm Lagrange như sau: ( ) ( ) (4) Số nhân Lagrange thể hiện mức độ mà sự nới lỏng các ràng buộc sẽ cải thiện mục tiêu chung của bài toán tối ưu, được đo bằng mức thoả dụng đã chiết khấu. Ta tìm các điều kiện bậc nhất cho một phương án của bài toán tối ưu này bằng cách lấy đạo hàm bậc nhất đối với từng biến quyết định và cho đạo hàm này bằng không. Việc lấy đạo hàm với các biến và là để đảm bảo các ràng buộc trong các phương trình trên xảy ra, không trình bày trong bài viết này.