chương 1 tác giả giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu từ đó xác định câu hỏi chính sách và trình bày phương pháp cũng như giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Trong chương 2, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết nhằm đưa ra khung lý thuyết vững chắc cho đề tài. Kế đến ở chương 3, tác giả đo lường tác động của lựa chọn ngược lên quyết định mua BHYTTN ở Việt Nam, đầu tiên là tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm cơ sở để đưa ra mô hình nghiên cứu của mình, kế đến tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu, bộ dữ liệu và cuối cùng chạy mô hình hồi quy. Ở chương 4, tác giả đo lường tác động của lựa chọn ngược trong BHYTTN đến bội chi quỹ BHYT, phần này tác giả thực hiện hai phép tính toán, phép tính toán thứ nhất nhằm so sánh chi phí y tế bình quân đầu người của năm 2008 so với năm 2006 trên cùng nhóm đối tượng được khảo sát trong hai năm nhưng khác nhau ở hành vi tham gia BHYTTN, phép tính toán thứ hai, tác giả đi đo lường tác động của lựa chọn ngược trong BHYTTN đến bội chi quỹ BHYT.
Ở chương cuối cùng, tác giả tóm tắt lại những kết quả nghiên cứu của đề tài và trên cơ sở đó tác giả đưa ra những gợi ý chính sách. 4 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 19 2. Lý thuyết về Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm y tế tự nguyện 30 2. Giới thiệu về BHYT BHYT là một chính sách xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng và luôn được đề cao trong hệ thống an sinh xã hội.
2 Vai trò của BHYT 3 Vai trò của BHYT đối với sự phát triển của con người BHYT góp phần vào việc ổn định và nâng cao sức khoẻ của nhân dân, là vốn quý trong việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Ngoài ra, BHYT còn góp phần vào việc tạo điều kiện giúp người dân lành bệnh và tái hoà nhập lại xã hội, giúp ổn định sản xuất kinh doanh cá nhân và xã hội. Một khi các cá nhân đã an tâm và tin tưởng vào chính sách của Nhà nước thì ổn định xã hội sẽ bền vững. BHYT và việc thực hiện công bằng xã hội Xét trên phạm vi toàn diện nền kinh tế - xã hội, BH nói chung đóng vai trò như một công cụ an toàn và dự phòng, đảm bảo khả năng hoạt động ổn định của các thành phần trong xã hội.
BHYT góp phần vào việc an sinh xã hội về phương diện chăm sóc sức khoẻ cũng như tạo công bằng trong chăm sóc sức khoẻ giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Vai trò của BHYT đối với việc xã hội hoá công tác y tế Vai trò này được thể hiện qua các khía cạnh: nguồn thu của BHYT từng bước đảm nhiệm được một phần kinh phí y tế. BHYT đã và đang đóng một vai trò tích cực trong hệ thống y tế Việt Nam trong việc gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của người dân bằng cách phát triển hệ thống dịch vụ y tế công và tư, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi muốn tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các đối tượng tham gia BHYT ngày càng được mở rộng đến hầu hết các tầng lớp dân cư. 2 Ban tuyên giáo Trung ương Đảng (2009), Hướng tới Bảo hiểm y tế toàn dân, NXB Thời Đại, Tr.
3 Trường Đại học Lao động – Xã hội - cơ sở 2 (2007), Giáo trình Bảo hiểm xã hội, NXB Lao động – Xã hội, tr. 5 Nguyên tắc hoạt động của BHYT Được quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm y tế ban hành ngày 14/11/2008 như sau: 1. Đảm bảo chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT. Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính.
Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả. Quỹ BHYTđược quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, đảm bảo cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ. Các hình thức của BHYT.
BHYT gồm 2 hình thức: BHYTBB và BHYTTN. BHYTBB gồm các nhóm đối tượng: Cán bộ công chức nhà nước, lao động trong doanh nghiệp, người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác. BHYTTN gồm các nhóm đối tượng: Học sinh – sinh viên và các đối tượng tự nguyện khác (lao động tự do, hộ gia đình…). Giới thiệu về BHYTTN BHYTTN là chương trình BHYT phi lợi nhuận với phí bảo hiểm đồng mức cho từng nhóm đối tượng ở từng khu vực, do BHXH Việt Nam thực hiện.
Chương trình BHYT được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện và hoàn toàn khác với khái niệm BHYTTN – thương mại ở nước ngoài. 4 a) Hình thức tổ chức BHYTTN 5 BHYTTN được tổ chức thực hiện theo địa giới hành chính và theo nhóm đối tượng, cụ thể: Theo địa giới hành chính: áp dụng cho hộ gia đình, tổ chức triển khai theo cấp xã, phường, thị trấn. Theo nhóm đối tượng: áp dụng cho học sinh, sinh viên đang theo học tại các cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; thành viên, hội viên của các đoàn thể, hội quần chúng. 4 Bộ Y tế (2008), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2008: Tài chính y tế ở Việt Nam.
5 Trường Đại học Lao động – Xã hội - cơ sở 2 (2007), Giáo trình Bảo hiểm xã hội, NXB Lao động – Xã hội, tr.126 6 b) Đối tượng tham gia BHYTTN Đối tượng tham gia của BHYTTN được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ban hành ngày 30/3/2007 và sửa đổi bổ sung theo Thông tư liên tịch số 14/2007/TTLT-BYT-BTC ban hành ngày 10/12/2007. BHYTTN được áp dụng với mọi công dân Việt Nam (trừ những người đã có thẻ BHYTBB được quy định tại Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ- CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ và trẻ em dưới 6 tuổi), cụ thể: a) Thành viên trong hộ gia đình, gồm những người có tên trong sổ hộ khẩu và cùng sống trong một gia đình; trường hợp không có tên trong sổ hộ khẩu, nhưng có đăng ký tạm trú với thời hạn ít nhất một năm và cùng chung sống trong một hộ gia đình thì được tham gia cùng hộ gia đình đó nếu có nhu cầu. b) Học sinh, sinh viên đang theo học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. c) Cán bộ dân số, gia đình và trẻ em ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) theo Quyết định số 240/2006/QĐ-TTg ngày 24/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ bảo BHYTTN đối với cán bộ dân số, gia đình và trẻ em ở xã, phường, thị trấn.
Thuyết nhu cầu của Maslow Theo thuyết nhu cầu của Maslow, con người có 5 hệ thống nhu cầu: Nhu cầu cơ bản; Nhu cầu về an toàn; Nhu cầu về xã hội; Nhu cầu được quý trọng và Nhu cầu được thể hiện mình. Khi con người đã thoả mãn được những nhu cầu cơ bản họ bắt đầu có nhu cầu được bảo vệ, hành vi mua BHYTTN chính là để đáp nhưng nhu cầu an toàn này. Người tiêu dùng mua bảo hiểm vì sợ những rủi ro không thể lường trước có thể xảy ra trong tương lai ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống của họ vì khi đó chi phí KCB sẽ là gánh nặng rất lớn đối với họ và gia đình. Vì vậy để yên tâm, người tiêu dùng mua BHYT nhằm đề phòng những rủi ro, bất trắc về sức khoẻ có thể xảy ra trong tương lai.
Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng Theo lý thuyết hành vi người tiêu dùng của kinh tế học vi mô, người tiêu dùng lựa chọn mua loại hàng hoá nào là do sở thích của họ quyết định, họ sẽ chọn mua loại hàng hoá mang lại cho họ độ thoả dụng cao nhất (nguyên tắc tối đa hoá độ thoả dụng). Ở đây, họ quyết định mua BHYTTN của nhà nước mà không mua loại hình BHYT nào khác vì BHYTTN đem lại cho họ hữu dụng biên cao hơn. Phí tham gia thấp và không phân biệt 7 theo tình trạng sức khoẻ của người tham gia BH mà quyền lợi được hưởng lại rất nhiều: được chi trả 80% chi phí KCB. Lý thuyết về thông tin bất cân xứng a) Khái niệm về thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch, một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại (Đặng Văn Thanh, 2009).
b) Hệ quả của thông tin bất cân xứng Lụa chọn ngược hay lựa chọn bất lợi Lựa chọn ngược là hậu quả của thông tin bất cân xứng xảy ra trước khi giao dịch được thực hiện (Đặng Văn Thanh, 2009). Từ thông tin bất cân xứng dẫn đến tình trạng lựa chọn ngược, đó là tình trạng một trong các bên không có thông tin đầy đủ như các bên còn lại về chất lượng sản phẩm dẫn đến khi tham gia trong thị trường họ hạ thấp kỳ vọng của mình về chất lượng sản phẩm nên chỉ trả giá ở mức trung bình. Kết quả cuối cùng chất lượng sản phẩm tham gia trên thị trường ngày càng giảm, thị trường chỉ còn lại sản phẩm xấu, hàng tốt bị hàng xấu đẩy ra khỏi thị trường. Ví dụ kinh điển là thị trường xe ô tô cũ (Pindyck & Rubinfeld, 1999).
Giả sử có hai loại xe được đem bán trên thị trường xe ô tô cũ – xe chất lượng cao và xe chất lượng thấp. Giả sử cả người bán và người mua đều biết rõ về chất lượng mỗi loại xe, như vậy sẽ có hai loại thị trường được trình bày ở hình 2. Giá cân bằng của thị trường ô tô chất lượng cao là $10.000trong khi ở thị trường ô tô chất lượng thấp là $5. Tuy nhiên, trong thực thế người bán ô tô biết rõ về chất lượng xe trong khi người mua thì không biết rõ vì vậy khi mua họ sẽ coi mọi chiếc xe đều có chất lượng “trung bình”.
Cầu loại xe có chất lượng trung bình là DM nằm dưới đường cầu xe có chất lượng cao (DH) nhưng lại nằm trên đường cầu xe có chất lượng thấp (DL).000 xe chất lượng cao và 75.000 xe chất lượng thấp được bán. Khi người mua bắt đầu nhận ra rằng hầu hết xe đem bán đều có chất lượng thấp, cầu của họ sẽ thay đổi.