chương 1, tác giả giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu: sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và cấu trúc luận văn. Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tác giả xác định phạm vi và đối tượng nghiên cứu là những người làm nghề tự do trên địa bàn Thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về BHXH TN 2.1 Khái niệm về BHXH Trong quá trình thực hiện BHXH, hệ thống pháp luật và chính sách về BHXH ở nước ta đã dần dần được bổ sung và hoàn thiện theo Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày ngày 29 tháng 6 năm 2006. Tuy nhiên cho đến hiện nay, văn bản pháp luật quy định chi tiết nhất, hoàn chỉnh và cụ thể về bảo hiểm xã hội là Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
Ngoài ra, còn có các văn bản pháp luật khác cũng quy định, hướng dẫn về bảo hiểm xã hội như Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH. Về khái niệm bảo hiểm xã hội, hiện nay có rất nhiều sách báo, giáo trình Đại học có đưa ra các quan điểm khác nhau dưới các góc nhìn khác nhau. Dưới góc độ kinh tế: BHXH không trực tiếp chữa bệnh khi người lao động ốm đau, tai nạn hay sắp xếp công việc mới cho họ khi họ mất việc làm mà chỉ giúp đỡ họ có một phần thu nhập khi người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Dưới góc độ pháp lý: Chế độ BHXH là tổng hợp những quy định của pháp luật, do Nhà nước ban hành, quy định về các hình thức đảm bảo về vật chất và tinh thần cho người lao động hoặc người thân trong gia đình người lao động khi họ bị mất hoặc giảm một phần khả năng lao động.
Vậy tóm lại BHXH là gì? Hiện nay, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã có quy định về khái niệm BHXH như sau: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội có 2 hình thức là: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.2 Khái niệm về BHXH TN Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, BHXH TN là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.3 Những quy định cơ bản về BHXH TN 2.1 Đối tượng tham gia BHXH TN Đối tượng tham gia BHXH TN hiện nay bao gồm: người tham gia BHXH TN là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc đối tượng tham gia đóng BHXH bắt buộc và người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về BHXH.2 Phương thức đóng, thời điểm đóng BHXH TN Đối với người tham gia BHXH TN được chọn các phương thức đóng sau đây: Đóng hàng tháng, đóng 3 tháng một lần, đóng 6 tháng một lần, đóng 12 tháng một lần, đóng một lần cho nhiều năm về sau, nhưng không quá 5 năm một lần, đóng một lần cho những năm còn thiều đối với người tham gia BHXH đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ thời gian tham gia, nhưng không quá 10 năm (120 tháng tham gia BHXH). Thời điểm đóng: Trong tháng đối với phương thức đóng hàng tháng, Trong 3 tháng đối với phương thức đóng 3 tháng một lần, Trong 4 tháng đầu đối với phương thức đóng 6 tháng một lần, Trong 7 tháng đầu đối với phương thức đóng 12 tháng một lần, Đối với phương thức đóng đóng 1 lần cho nhiều năm về sau và đóng 1 lần cho những năm còn thiếu thời điểm nộp tại thời điểm đăng ký phương thức đóng và mức thu nhập làm căn cứ đóng.3 Mức đóng BHXH TN Mức đóng BHXH TN được người tham gia tự lựa chọn căn cứ mức thu nhập tháng: Trong đó: + Mtnt: Mức thu nhập tháng + CN: mức chuẩn nghèo của khu vực nông thôn tại thời điểm đóng (đồng/tháng) 7 + m: số tự nhiên có giá trị từ 0 đến n A = 22% x Mtnt x t Trong đó: + A: Mức đóng BHXH TN/lần + t: phương thức đóng (hàng tháng/3 tháng/6 tháng/12 tháng) Lưu ý: - Mức đóng BHXH TN: + Thấp nhất bằng chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định (thời điểm tháng 9/2016 là 700.000đồng/tháng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều cho giai đoạn 2016-2020) + Cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng. - Mức đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm: - Mức đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia đủ tuổi nghi hưu nhưng chưa đủ thời gian tham gia BHXH nhưng không quá 10 năm (120 tháng) Trong đó: + Mi: Mức thu nhập tháng do người tham gia chọn tại thời điểm đóng + r: Lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng do BHXH VN công bố của năm trước liên kề với năm đóng + n: số năm đóng trước do người tham gia BHXH chọn có giá trị từ 1 đến 5 + i: số tự nhiên có giá trị từ 1 đến (n x 12) + t: Số tháng còn thiếu, nhận một trong các giá trị từ 1 đến 120 2.5 Những quyền lợi được hưởng khi tham gia BHXH TN 8 Người tham gia BHXH TN được hưởng quyền lợi về hưu trí, tử tuất, BHXH một lần như nhóm đối tượng tham gia BHXH BB.2 Khái niệm về an sinh xã hội Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội khi họ không may gặp phải những “rủi ro xã hội” hoặc các “biến cố xã hội” dẫn đến ngừng hoặc giảm thu nhập. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc, đây cũng là tư tưởng muốn hướng tới sự hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người và cho xã hội. Có thể thấy rõ bản chất của ASXH từ các khía cạnh sau: Thứ nhất, ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp quốc thừa nhận Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó.
Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội”. Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi. Đây là thước đo thực hiện quyền con người của mỗi quốc gia, đã được Liên hợp quốc thừa nhận (Mạc Văn Tiến, 2019). Thứ hai, ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp Mỗi người trong xã hội từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khác nhau… là những biểu hiện khác nhau của một hệ thống giá trị xã hội.
Nhưng vượt lên trên tất 9 cả, với tư cách là một công dân, họ phải được bảo đảm mọi mặt để phát huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo… ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng. ASXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… Đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên (Mạc Văn Tiến, 2019). Thứ ba, ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội. Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh.
Điều này thể hiện ở những mặt sau: - ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội. Trên bình diện xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội. Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc. Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình.
Một bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thế, còn bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác định. Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp đóng” tương đối). Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những nhóm người “yếu thế”.