MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sóc Trăng là tỉnh có đồng bào tộc người thiểu số đông nhất ở Đồng bằng Sông Cửu Long, chiếm khoảng 35,44% dân số (năm 2020). Trong đó, tộc người Khmer chiếm 30,19%, tộc người Hoa 5,2%, còn lại là các tộc người khác 2. Trong nội bộ tộc người Hoa, nhóm ngôn ngữ Triều Châu là thành phần đa số, chiếm khoảng 80% (Phan An, 2005, tr.
Có thể nói văn hóa Sóc Trăng 3 là sản phẩm của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa tộc người của ba tộc người: Kinh - Khmer - Hoa 4. Tuy người Triều Châu (người Hoa Triều Châu) có tỉ lệ khá thấp so với hai tộc người còn lại nhưng sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa người Triều Châu với tộc người đa số (người Kinh) ở vùng đất Sóc Trăng là rất sâu sắc. Vì vậy, nghiên cứu sự giao lưu, tiếp biến văn hóa - ngôn ngữ giữa người Kinh và người Triều Châu ở Sóc Trăng là một chìa khóa quan trọng trong việc tìm hiểu văn hóa tỉnh Sóc Trăng. Trong quá trình cư trú và cộng cư cùng các tộc người khác tại Sóc Trăng, trải qua nhiều thế hệ, ngôn ngữ của cộng đồng người Triều Châu đã có nhiều biến đổi.
Sự biến đổi trong ngôn ngữ thể hiện quá trình hội nhập của người Triều Châu tại đây và cũng thể hiện ý thức văn hóa của những cá nhân trong cộng đồng này. Vì vậy, nghiên cứu ý thức văn hóa qua lựa chọn ngôn ngữ, chúng tôi kỳ vọng sẽ lý giải được các hiện tượng văn hóa và bản sắc văn hóa của người Triều Châu ở Sóc Trăng. Cuối cùng, từ góc độ cá nhân, tuy là người Triều Châu ở Sóc Trăng nhưng lắm lúc người viết cũng không hiểu người Triều Châu nơi đây đang thực sự nghĩ gì qua lựa chọn ngôn ngữ trong tương quan với bản sắc văn hóa tộc người. Đơn cử việc lựa chọn tiếng Triều Châu để dạy, người ta có mong muốn phải dạy thứ tiếng Triều Châu 2 Số liệu do Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng cung cấp.
3 Trong toàn luận văn, những chỗ chúng tôi chỉ sử dụng từ “Sóc Trăng” chỉ “tỉnh Sóc Trăng”, những chỗ chỉ riêng thành phố Sóc Trăng sẽ luôn có ký tự “TP.” trước địa danh. 4 Tộc người Hoa chủ yếu được nói đến ở đây là nhóm ngôn ngữ Triều Châu nên chúng tôi sử dụng từ người Triều Châu khi đề cập đến thành phần cư dân này, từ “người Hoa Triều Châu” có xuất hiện là trong các trích dẫn nguyên văn từ tác giả khác. -2- nào? Tiếng Triều Châu đúng như thế hệ ông bà đã dùng khi di cư đến Sóc Trăng, tiếng Triều Châu đã bản địa hóa hay tiếng Triều Châu như người Triều Châu ở Trung Quốc (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) hiện nay đang sử dụng? Và thực trạng về sự suy giảm số người sử dụng tiếng Triều Châu cũng là một lý do quan trọng để người viết thực hiện đề tài này. Mục đích nghiên cứu Luận văn nhằm tìm hiểu các động thái đằng sau những lựa chọn trong ngôn ngữ của cộng đồng người Triều Châu ở Sóc Trăng và những tầng sâu trong văn hóa của cộng đồng này qua những lựa chọn ngôn ngữ được đề cập đến.
Góp phần tìm hiểu ngôn ngữ tại vùng đất Sóc Trăng như một phương cách tiếp cận văn hóa địa phương. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Chúng tôi thực hiện đề tài về văn hóa - ngôn ngữ của người Triều Châu - tức là một nhóm cộng đồng ngôn ngữ tộc người Hoa, vì vậy, trước hết đề tài này sẽ được kế thừa từ những hiểu biết về người Hoa trong các công trình trước đó. Với tư cách là một cộng đồng tộc người thiểu số của Việt Nam, người Hoa nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, thể hiện qua rất nhiều công trình mà chúng tôi đã đọc được: Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam Bộ (Nguyễn Duy Bính, 1999); Tổ chức xã hội của người Hoa ở Nam Bộ (Nguyễn Đệ, 2008); Tín ngưỡng của người Hoa ở Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (Trần Đăng Kim Trang, 2008); Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở thành phố Cần Thơ (Đặng Thị Tấm, 2008); Tín ngưỡng dân gian người Hoa ở Sóc Trăng (Lâm Hoàng Viên, 2017);… Một vài trong các công trình trên có đề cập đến lý thuyết tiếp cận, tuy nhiên, nội dung chính của các công trình vẫn chủ yếu là khảo tả. Người Hoa trong các công trình trên được nhìn nhận như một cộng đồng đồng nhất vì vậy đã phần nào xem nhẹ sự khác biệt (rất lớn) về văn hóa, ngôn ngữ, tâm thức,… của các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau trong nội bộ -3- tộc người Hoa.
Những công trình nghiên cứu về người Hoa theo phương pháp và cách nhìn nhận như vậy có số lượng rất lớn nên chúng tôi không thể đi sâu để phân tích nội dung cũng như giá trị của từng công trình. Song, có thể nói, đây là những bước tiếp cận đầu tiên để có thể hiểu về một tộc người với thân phận đặc biệt mà dù muốn hay không cũng đã là một sự tồn tại như nó đang là. Trong thập niên vừa qua (từ năm 2010 đến nay), đã có một số nhà nghiên cứu cố gắng tiếp cận nghiên cứu nhóm cộng đồng ngôn ngữ Triều Châu như một cộng đồng khả thể tách biệt thuộc tộc người Hoa: Nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ (Nguyễn Công Hoan, 2011); Dạy Hoa văn của người Hoa nhóm Triều Châu tại Đồng bằng Sông Cửu Long (nghiên cứu trường hợp xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu5, tỉnh Sóc Trăng) (Trương Anh Tiến, 2017),… Ngoài ra, có hai công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của người Hoa mà ít nhiều liên quan đến đề tài chúng tôi thực hiện, gồm: Giáo dục khả năng song ngữ Hoa - Việt cho học sinh người Hoa ở Sóc Trăng trong bối cảnh đa ngữ (Việt - Khmer - Hoa) (Lê Huỳnh Như, 2017); Cảnh huống song ngữ Việt - Hoa tại Đồng bằng Sông Cửu Long (Hoàng Quốc, 2015). Có thể nói, luận án Nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ (2011) là một trong những công trình tiên phong trong nghiên cứu về người Triều Châu và có sự áp dụng lý thuyết Nhân học, Dân tộc học vào nghiên cứu.
Luận án đi sâu khảo tả về các nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân và tang ma của người Triều Châu ở Nam bộ, qua đó, “vận dụng lý thuyết Nghi lễ chuyển đổi của Annold Van Gennep vào nghiên cứu trường hợp hôn nhân và tang ma của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ” (Nguyễn Công Hoan, 2011, tr. “Thông qua nghi lễ, tác giả đã đi sâu phân tích về vai trò, vị thế, nghĩa vụ, trách nhiệm của các đối tượng nghiên cứu trong từng nghi lễ chuyển đổi, từng giai đoạn khác nhau” (Nguyễn Công Hoan, 2011, tr. Tuy nhiên, công trình có rất nhiều điểm chưa chính xác về kiến thức, ngôn ngữ Triều Châu (phiên âm sai hoặc lẫn lộn sang ngôn ngữ của nhóm Hoa khác). Chúng tôi xin 5 Tên đề tài của tác giả (năm 2017) vẫn giữ đơn vị hành chính là “huyện” nhưng trong thực tế đến năm 2011, huyện Vĩnh Châu đã được nâng lên thành thị xã Vĩnh Châu.
-4- phép đưa ra một vài ví dụ: ở phần mô tả về trang phục, tác giả đưa ra rất nhiều trang phục với các tên gọi được phiên âm như “tai khoảnh”, “khấu cúa”, “xá xẩu”, “ệk bậu”, “cà kia”, “lung xám”, “xì que hò”, “mẻ khoảnh” (Nguyễn Công Hoan, 2011, tr. Trong đó, chúng tôi chỉ đọc được hai từ gần giống tiếng Triều Châu là “khấu cúa” (khố cúe, 褲橛, khố quyết, quần ngắn) và “ệk bậu” (ẹch pộ, 浴布, dục bố, khăn tắm), một từ tiếng Quảng Đông “lung xám” có âm Triều Châu đúng phải là “lièng xa” (龍衫, long sam, áo rồng). Nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân thời kỳ tiền ngưỡng, khi bàn về con số bốn (4) trong văn hóa Triều Châu, ở đoạn trên, tác giả viết “Tiền phụ trợ gia đình nhà gái thường là con số 4.000 đồng (xí xỉ xí xỉ - sống đời đời)” (Nguyễn Công Hoan, 2011, tr.75) nhưng ngay sau đó tác giả lại viết “người Triều Châu rất thích con số bốn có nghĩa là xây xây bỉng ơn - có nghĩa đời đời phát đạt” (Nguyễn Công Hoan, 2011, tr. Số bốn, âm Triều Châu đọc là “xị” (四, tứ, số bốn) hoàn toàn trùng âm với từ “xị” (世, thế, đời).
Vì vậy, tác giả ký âm “xị” có thể chấp nhận được, sau đó lại “xây xây bỉng ơn” thì lại là tiếng Quảng Đông, câu đó tiếng Triều Châu phải đọc là “xí xị phèng an” (世世平安, thế thế bình an) và có nghĩa là “đời đời bình an” thay vì “đời đời phát đạt” như tác giả viết. Cũng có công trình dùng phương pháp tiếp cận định lượng khá nhiều như công trình Cảnh huống song ngữ Việt - Hoa tại Đồng bằng Sông Cửu Long (2015) của Hoàng Quốc. Đây là một xu hướng khá mạnh trong khoa học xã hội và nhân văn thời gian gần đây. Tuy nhiên, cách tiếp cận định lượng như của tác giả Hoàng Quốc có khá nhiều vấn đề và có thể sẽ khiến cho các con số thống kê dù lớn đến đâu, không gian nghiên cứu rộng đến đâu, cả các kiến giải, kết luận dù có vẻ hữu lý đến đâu cũng trở nên bất khả tín.
Trong cả ba bảng hỏi được sử dụng trong nghiên cứu (phụ lục 1 - Hoàng Quốc, 2015, tr.243 - 256), tác giả chỉ chú trọng đến sự lựa chọn của đối tượng phỏng vấn mà thiếu hẳn các câu hỏi để kiểm chứng lại về khả năng ngôn ngữ của các đối tượng. Từ đó dẫn đến các kết quả mà chúng tôi cho rằng cần có sự tái kiểm định. Ví dụ: tác giả nhận định “trong tổng số 196 người được điều tra tại xã Vĩnh Hải và 136 người -5- tại thị trấn Vĩnh Châu 6, thì 100% biết tiếng mẹ đẻ, trong đó có đến 96,39% nghe nói thông thạo…” (Hoàng Quốc, 2015, tr. Phương pháp thống kê của tác giả có vấn đề không nhỏ: - Số lượng mẫu giữa các đơn vị đồng cấp không đều nhau: ở cấp tỉnh, An Giang 1.071 người, Sóc Trăng 332 người, Bạc Liêu 316 người, Kiên Giang 212 người (Hoàng Quốc, 2015, tr.
Trong từng tỉnh, tác giả cũng chọn mẫu không đồng đều giữa các đơn vị cấp huyện, xã. Ví dụ: tại tỉnh An Giang với 1.071 người, tác giả phân bố Long Xuyên 176 người, Châu Đốc 298 người, Tân Châu 138 người, Châu Phú 77 người, Châu Thành 67 người, Thoại Sơn 109 người, Tịnh Biên 112 người, Tri Tôn 94 người (Hoàng Quốc, 2015, tr. Khi chọn mẫu như vậy, các kết luận nhằm so sánh giữa những đơn vị đồng cấp sẽ nảy sinh nhiều vấn đề, cụ thể như dưới đây: Trong mục 3.