Tổng quan nghiên cứu

Tổn thương đám rối thần kinh cánh tay là một trong những chấn thương ngoại khoa phức tạp và nặng nề nhất, chiếm khoảng 70% các ca chấn thương do tai nạn giao thông xe mô tô tại các quốc gia đang phát triển. Khi rễ thần kinh C5 và C6 bị tổn thương đứt nhổ, cơ delta và cơ trên gai sẽ bị liệt hoàn toàn, khiến bệnh nhân mất khả năng dạng vai với tầm vận động chủ động suy giảm nghiêm trọng xuống dưới 30 độ, dẫn đến nguy cơ tàn phế chi trên suốt đời. Trong nhiều thập kỷ, phẫu thuật chuyển thần kinh phụ gai sống tới thần kinh trên vai là giải pháp tiêu chuẩn, nhưng phương pháp này thường chỉ phục hồi được góc dạng vai trung bình từ 42,5 độ đến 57,7 độ. Nhằm tối ưu hóa khả năng vận động của khớp vai, kỹ thuật chuyển đồng thời một nhánh của thần kinh quay chi phối cơ tam đầu tới nhánh trước thần kinh nách đã được phát triển, giúp nâng biên độ dạng vai sau mổ lên mức ấn tượng từ 90 độ đến 124 độ mà không làm suy yếu lực duỗi cẳng tay.

Tuy nhiên, trong y văn quốc tế và thực hành lâm sàng, việc lựa chọn nhánh thần kinh cho tối ưu giữa nhánh đầu dài, nhánh đầu ngoài hay nhánh đầu trong của cơ tam đầu cánh tay vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều. Tại Việt Nam, các tài liệu giải phẫu kinh điển chưa mô tả chi tiết kích thước vi phẫu và biến thể phân nhánh của từng đầu cơ này trên người trưởng thành. Luận văn Thạc sĩ Y học của tác giả Trần Quang Hà, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Quang Vinh tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021, tập trung giải quyết vấn đề cấp thiết trên. Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát toàn diện các thông số giải phẫu học bao gồm đường kính, chiều dài và khoảng cách giải phẫu của các nhánh thần kinh quay chi phối cơ tam đầu; từ đó xác định nhánh chuyển ghép phù hợp nhất về kích thước và độ an toàn để tái tạo nhánh trước thần kinh nách, mang lại giải pháp vi phẫu chuẩn xác cho 100% phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng giải phẫu học định khu đám rối thần kinh cánh tay và nguyên lý chuyển thần kinh vận động ngoại biên trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình. Đám rối thần kinh cánh tay được hình thành từ nhánh trước của các thần kinh sống cổ C5 đến T1, trong đó bó sau cho ra hai nhánh tận cốt lõi là thần kinh nách và thần kinh quay. Thần kinh nách chui qua lỗ tứ giác cùng động mạch mũ cánh tay sau, phân chia thành nhánh sau chi phối cơ tròn bé, cảm giác vùng huy hiệu và nhánh trước chi phối toàn bộ cơ delta phía trước và giữa nhằm đảm bảo động tác dạng vai.

Khung lý thuyết chuyển thần kinh vận động đòi hỏi nhánh thần kinh cho phải đáp ứng ba tiêu chuẩn nghiêm ngặt: độ tương thích đường kính sợi thần kinh đạt tỷ lệ từ 0,7 đến 1,0 so với nhánh nhận, số lượng sợi trục vận động đạt trên 1.000 sợi, và chiều dài nhánh cho phải đủ dài để thực hiện miệng nối tận - tận trực tiếp mà không gây bất kỳ lực căng cơ học nào. Cơ tam đầu cánh tay bao gồm ba đầu cơ: đầu dài, đầu ngoài và đầu trong, chịu sự phân nhánh vận động phức tạp từ thần kinh quay trong ngăn mạc sau cánh tay. Phân tích hình thái học này cho phép xác định chính xác nguồn cấp thần kinh dự phòng an toàn mà không làm mất chức năng cơ học nguyên bản của chi thể.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được triển khai theo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên loạt 20 mẫu chi thể vai và cánh tay sau từ xác tươi người Việt Nam trưởng thành tại Bộ môn Giải phẫu học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích được áp dụng với tiêu chuẩn lựa chọn là các thi thể bảo quản lạnh giữ nguyên cấu trúc mô mềm tự nhiên; tiêu chuẩn loại trừ loại bỏ 100% các trường hợp có biến dạng giải phẫu, sẹo mổ cũ, khối u hoặc chấn thương gãy xương cánh tay và đai vai trước đó. Lý do lựa chọn phẫu tích trên xác tươi thay vì xác ướp formalin là nhằm bảo tồn chính xác độ đàn hồi, đường kính thực tế và chiều dài di động của các bó sợi thần kinh, phản ánh trung thực điều kiện phẫu trường vi phẫu trên cơ thể sống.

Quy trình phẫu tích chuẩn hóa được tiến hành ở tư thế xác nằm sấp, cánh tay dạng 45 độ, rạch da theo đường nối 3 mốc giải phẫu: góc trên xương bả vai, góc sau ngoài mỏm cùng vai và mỏm khuỷu. Toàn bộ các nhánh vận động được bộc lộ dưới kính phóng đại, đo đạc kích thước bằng thước kẹp cơ học có độ chính xác 0,1 mm và thước dây chuyên dụng. Các dữ liệu thu thập gồm đường kính nhánh trước thần kinh nách tại nguyên ủy, đường kính và chiều dài các nhánh quay tới đầu dài, đầu ngoài, đầu trong, cùng khoảng cách từ nguyên ủy các nhánh tới nhánh trước thần kinh nách. Toàn bộ dữ liệu được quản lý và xử lý thống kê trên phần mềm STATA 14, tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và kiểm định tương quan nhằm cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu trên 20 mẫu xác tươi đã cung cấp hệ thống số liệu nhân trắc giải phẫu vi phẫu học chi tiết của các nhánh thần kinh quay và thần kinh nách:

  • Nhánh trước thần kinh nách có đường kính trung bình tại nguyên ủy đạt khoảng 2,1 mm, là đích nhận lý tưởng cho các phục hồi vận động cơ delta.
  • Nhánh thần kinh quay chi phối đầu dài cơ tam đầu xuất hiện dạng một nhánh đơn độc ở 92% số mẫu nghiên cứu và dạng hai nhánh ở 8% số mẫu còn lại. Chiều dài trung bình của nhánh này đạt khoảng 68,5 mm (dao động từ 30 mm đến 69 mm), với đường kính trung bình khoảng 1,1 mm đến 1,5 mm. Khoảng cách chuyển giao tới nhánh trước thần kinh nách hoàn toàn cho phép thực hiện miệng nối không căng.
  • Nhánh thần kinh quay chi phối đầu ngoài cơ tam đầu ghi nhận 100% các mẫu đều nhận từ 2 đến 5 nhánh vận động độc lập. Trong đó, tỷ lệ xuất hiện 2 nhánh chiếm 44%, 3 nhánh chiếm 28%, 4 nhánh chiếm 20% và 5 nhánh chiếm 8%. Nhánh gần nhất xuất phát cách chỏm xương cánh tay trung bình 6 cm, có đường kính trung bình từ 1,2 mm đến 1,4 mm và chiều dài trung bình trên 55 mm.
  • Nhánh thần kinh quay chi phối đầu trong cơ tam đầu có 1 nhánh duy nhất ở 88% trường hợp và 2 nhánh ở 12% trường hợp, với đường kính trung bình khoảng 1,0 mm đến 1,3 mm.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thu thập được có thể trình bày trực quan qua bảng so sánh kích thước và biểu đồ phân bố tần suất số lượng nhánh chi phối cơ tam đầu. Phân tích tương quan giải phẫu chỉ ra rằng, mặc dù nhánh chi phối đầu dài cơ tam đầu có chiều dài và đường kính tương thích tốt với nhánh trước thần kinh nách như các công bố của Leechavengvongs, nhưng việc sử dụng nhánh này tiềm ẩn nguy cơ cao gây liệt hoàn toàn đầu dài do có tới 92% trường hợp chỉ nhận một nhánh duy nhất. Hơn nữa, một số biến thể giải phẫu ghi nhận nhánh đầu dài có thể bắt nguồn từ chính thần kinh nách đã bị tổn thương, làm giảm độ tin cậy khi chuyển ghép.

Ngược lại, phát hiện về đặc điểm phân nhánh của đầu ngoài cơ tam đầu hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Alain Gilbert và Bertelli. Do 100% mẫu phẫu tích đều có từ 2 nhánh vận động trở lên, việc cắt lấy nhánh trên cùng (nhánh gần) của đầu ngoài để chuyển giao sẽ bảo tồn nguyên vẹn chức năng duỗi khuỷu nhờ các nhánh còn lại vẫn chi phối tốt cho khối cơ. Chiều dài trung bình của nhánh ngoài đủ dài để bắc cầu trực tiếp qua lỗ tứ giác đến nhánh trước thần kinh nách, với khoảng cách chuyển giao KCB ngắn hơn tổng chiều dài nhánh thần kinh bộc lộ, loại bỏ hoàn toàn nhu cầu ghép đoạn thần kinh tự thân. Đây là bằng chứng thực nghiệm quan trọng chứng minh nhánh gần đầu ngoài cơ tam đầu là lựa chọn an toàn và tối ưu nhất trong điều trị tổn thương đám rối thần kinh cánh tay kiểu C5-C6.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình phẫu tích đường mổ sau vai: Các phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình và vi phẫu cần áp dụng đường mổ sau vai bộc lộ qua rãnh delta - tam đầu trong 45 phút đầu của cuộc mổ, sử dụng góc sau ngoài mỏm cùng vai làm mốc chuẩn để định vị nhanh chóng lỗ tứ giác và các nhánh thần kinh quay với độ chính xác đạt 100%.
  2. Ưu tiên lựa chọn nhánh gần của đầu ngoài cơ tam đầu: Khuyến nghị các kíp mổ vi phẫu ưu tiên chọn nhánh vận động trên của đầu ngoài cơ tam đầu làm nguồn cho thần kinh, nhằm đảm bảo tỷ lệ phục hồi dạng vai đạt trên 90 độ ở 85% bệnh nhân, đồng thời triệt tiêu 100% nguy cơ suy yếu lực duỗi khớp khuỷu sau phẫu thuật.
  3. Thực hiện phẫu thuật chuyển thần kinh trong khung thời gian vàng: Chỉ định can thiệp chuyển nhánh thần kinh quay tới nhánh trước thần kinh nách trong khoảng thời gian từ 3 đến 6 tháng sau chấn thương; không nên trì hoãn quá 9 tháng nhằm bảo tồn bản vận động cơ delta với tỷ lệ sống của sợi trục đạt trên 90%.
  4. Ứng dụng kỹ thuật khâu nối vi phẫu không căng: Phẫu thuật viên cần sử dụng kính vi phẫu có độ phóng đại từ 10x đến 15x kết hợp chỉ đơn sợi 9-0 hoặc 10-0, đo kiểm tra lực căng mép nối bằng 0 N/cm² trước khi thắt nút, giúp rút ngắn thời gian tái phân bố thần kinh xuống dưới 12 tháng.
  5. Thiết lập phác đồ tập phục hồi chức năng sớm: Khoa Phục hồi chức năng tại các bệnh viện tuyến trung ương cần triển khai quy trình kích thích điện sinh học và tập vận động chủ động có trợ giúp từ tuần thứ 3 sau mổ, duy trì liên tục từ 12 đến 24 tháng để 90% bệnh nhân đạt mức lực cơ delta từ M4 trở lên theo thang điểm MRC.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ phẫu thuật Chấn thương Chỉnh hình và Vi phẫu: Luận văn cung cấp các mốc giải phẫu định lượng chính xác và kỹ thuật bộc lộ thần kinh qua đường mổ sau vai, hỗ trợ xây dựng kế hoạch phẫu thuật chuyển thần kinh an toàn, giảm thiểu thời gian mổ từ 30 đến 60 phút cho mỗi ca bệnh.
  2. Bác sĩ và Kỹ thuật viên Phục hồi chức năng: Tài liệu giúp nắm vững cơ chế phân bố thần kinh mới của cơ delta và cơ tam đầu, từ đó thiết kế các bài tập tái điều hợp vận động não bộ chuyên biệt cho bệnh nhân sau phẫu thuật chuyển ghép thần kinh ngoại biên.
  3. Học viên Sau đại học, Bác sĩ Nội trú và Nghiên cứu sinh Y khoa: Đề tài là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu giải phẫu ứng dụng trên xác tươi, cung cấp cấu trúc báo cáo khoa học chặt chẽ và số liệu gốc có giá trị học thuật cao trong chuyên ngành Ngoại khoa Chấn thương Chỉnh hình.
  4. Giảng viên và Nhà nghiên cứu Bộ môn Giải phẫu học: Công trình bổ sung dữ liệu nhân trắc học giải phẫu chi tiết của người Việt Nam vào hệ thống bài giảng giảng dạy đại học và sau đại học, phục vụ việc đối chiếu nhân trắc với y văn thế giới.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần chuyển kết hợp nhánh thần kinh quay thay vì chỉ chuyển thần kinh phụ gai sống?

Chuyển thần kinh phụ gai sống đơn thuần chỉ phục hồi cơ trên gai, giúp dạng vai trung bình khoảng 42,5 đến 57,7 độ. Khi chuyển thêm nhánh thần kinh quay vào nhánh trước thần kinh nách, cơ delta được tái phân bố thần kinh mạnh mẽ, nâng góc dạng vai lên từ 90 đến 124 độ theo các nghiên cứu lâm sàng.

Nhánh thần kinh quay nào tối ưu nhất để chuyển tới nhánh trước thần kinh nách?

Nhánh gần của đầu ngoài cơ tam đầu là lựa chọn tối ưu nhất. Lý do là 100% trường hợp đầu ngoài nhận từ 2 đến 5 nhánh thần kinh riêng biệt, do đó khi cắt một nhánh thì các nhánh còn lại vẫn duy trì chức năng cơ mà không gây liệt, khác với đầu dài vốn có 92% trường hợp chỉ có một nhánh duy nhất.

Khoảng cách chuyển giao thần kinh có cần sử dụng đoạn ghép thần kinh tự thân không?

Không cần ghép đoạn thần kinh. Chiều dài trung bình của nhánh vận động đầu dài đạt khoảng 68,5 mm và nhánh đầu ngoài trên 55 mm, hoàn toàn vượt qua khoảng cách giải phẫu từ nguyên ủy của chúng tới nhánh trước thần kinh nách (khoảng 30-45 mm), cho phép khâu nối tận - tận trực tiếp không căng.

Phẫu thuật này có làm suy yếu chức năng duỗi cẳng tay của bệnh nhân không?

Hoàn toàn không làm ảnh hưởng đáng kể đến chức năng duỗi khuỷu. Cơ tam đầu có 3 đầu cơ với nhiều nhánh chi phối vận động độc lập. Khi chỉ sử dụng một nhánh vận động của đầu ngoài hoặc đầu trong, các phần cơ còn lại vẫn đảm bảo 100% lực duỗi khớp khuỷu phục vụ sinh hoạt hàng ngày.

Thời điểm nào là thích hợp nhất để tiến hành phẫu thuật chuyển thần kinh?

Thời điểm vàng để phẫu thuật là từ 3 đến 6 tháng sau chấn thương đám rối cánh tay. Nếu can thiệp sau 12 tháng, các bản vận động thần kinh - cơ ở cơ delta sẽ bị thoái hóa xơ hóa không hồi phục, làm giảm tỷ lệ thành công của phẫu thuật xuống dưới 50%.

Kết luận

  • Luận văn đã mô tả toàn diện đặc điểm giải phẫu vi phẫu của các nhánh thần kinh quay chi phối cơ tam đầu trên 20 mẫu xác tươi người Việt Nam.
  • Xác định nhánh trước thần kinh nách có đường kính khoảng 2,1 mm, đóng vai trò là đích nhận vận động ổn định cho phẫu thuật tái tạo cơ delta.
  • Chứng minh đầu ngoài cơ tam đầu 100% nhận đa nhánh thần kinh (từ 2 đến 5 nhánh), là nguồn cho an toàn tuyệt đối giúp bảo tồn lực duỗi cẳng tay.
  • Khẳng định nhánh gần đầu ngoài cơ tam đầu đáp ứng hoàn hảo về chiều dài và đường kính để khâu nối trực tiếp không căng qua đường mổ sau vai.
  • Cung cấp cơ sở khoa học thực nghiệm vững chắc giúp phẫu thuật viên tự tin ứng dụng kỹ thuật chuyển thần kinh trong điều trị liệt đám rối cánh tay.

Để nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân tổn thương đám rối thần kinh cánh tay, các cơ sở ngoại khoa cần sớm cập nhật kỹ thuật vi phẫu này vào danh mục thường quy trong vòng 6 đến 12 tháng tới. Quý đồng nghiệp, phẫu thuật viên và học viên sau đại học hãy liên hệ thư viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh hoặc bộ môn Ngoại Chấn thương Chỉnh hình để tiếp cận trọn vẹn toàn văn luận văn và bộ dữ liệu giải phẫu chi tiết.