ĐẶT VẤN ĐỀ Dị dạng vòng mạch là tập hợp các dị dạng phức hợp cung động mạch chủ. Các dị dạng thƣờng gặp bao gồm quai động mạch chủ đôi, quai động mạch chủ bên phải có vòng mạch, sling động mạch phổi, quai động mạch chủ trái kèm bất thƣờng động mạch dƣới đòn phải. Đây là một bệnh lý hiếm gặp, chiếm 1% bất thƣờng tim mạch bẩm sinh [11], [16], [55]. Lâm sàng của bệnh thƣờng nghèo, có thể có biểu hiện sớm, muộn hoặc thậm chí không biểu hiện triệu chứng.
Triệu chứng nếu có của bệnh bao gồm thở rít/khò khè nếu bệnh có chèn ép đƣờng thở; nuốt nghẹn nếu có chèn ép thực quản. Bệnh đƣợc chẩn đoán dựa trên các phƣơng tiện chẩn đoán hình ảnh. Trên phim Xquang ngực thẳng/nghiêng có thể phát hiện đƣợc bất thƣờng, tuy nhiên thƣờng khó nhận thấy [44]. Phƣơng tiện chẩn đoán chính hiện nay của bệnh bao gồm nội soi và chụp cắt lớp vi tính lồng ngực.
Nội soi cung cấp góc nhìn trực quan về cấu trúc, bất thƣờng của đƣờng thở, đánh giá hẹp có phải do vòng sụn khép kín hay không nhƣng lại khó đánh giá đƣợc hẹp do căn nguyên khác, chiều dài đoạn hẹp, cấu trúc dƣới đoạn hẹp. Chụp cắt lớp giúp bổ sung những thông tin nhƣ chiều dài cụ thể của đoạn hẹp, mức độ hẹp, các bất thƣờng khác kèm theo… Phƣơng pháp điều trị chính của bệnh là phẫu thuật. Có thể chỉ cần phẫu thuật căn nguyên mạch máu, tuy nhiên với những trƣờng hợp có hẹp khí quản nặng cần phẫu thuật tạo hình khí quản. Những bệnh nhân cần phẫu thuật tạo hình khí quản có tỷ lệ tử vong cao hơn so với nhóm sửa dị dạng vòng mạch đơn thuần [63].
Tại Việt Nam, hiện chƣa có nhiều nghiên cứu về dị dạng vòng mạch. Các nghiên cứu chủ yếu về một dị dạng đơn thuần nhƣ sling động mạch phổi 1 2 hay về hẹp khí quản nói chung [2], [6]. Hiện nay mới chỉ có nghiên cứu của Lê Bình Bảo Tịnh mô tả về dị dạng vòng mạch có chèn ép khí quản hay của Nguyễn Đức Tuần về sling động mạch phổi [4], [6]. Cần có thêm nghiên cứu cập nhật về đặc điểm chẩn đoán hình ảnh và kết quả điều trị của bệnh lý.
Chính vì vậy, chúng tôi làm nghiên cứu đề tài: ―Đặc điểm chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật bệnh lý dị dạng vòng mạch tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng‖ với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm chẩn đoán hình ảnh bệnh lý dị dạng vòng mạch ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Nhận xét kết quả phẫu thuật bệnh lý dị dạng vòng mạch tại Bệnh viện Nhi Trung ương. 2 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.
Sự phát triển của hệ tuần hoàn trong thời kì bào thai 1. Sự phát triển của tim trong thời kì bào thai Tim là một trong những tạng đầu tiên phát triển trong thời kì bào thai, bắt đầu từ khoảng giữa tuần thứ ba của thai kì, khi mà lúc này sự khuếch tán các chất từ nhau thai không còn đủ khả năng cung cấp dinh dƣỡng nữa (bởi ban đầu do phôi thai còn nhỏ, chỉ cần sự khuếch tán đơn thuần các chất dinh dƣỡng là đủ để cho phôi thai phát triển). Nguyên bào tim có nguồn gốc từ trung bì, xuất phát từ nhánh phía đầu của đƣờng nguyên thủy. Các tế bào này sau đó đi dần xuống phía dƣới của phôi thai, tuy nhiên vẫn ở phần đầu của phôi, sang hai bên rồi tạo thành diện tim trái và diện tim phải.
Hai diện tim này sau đó sẽ hợp nhất với nhau tạo thành ống tim nguyên thủy [3], [54]. Đến ngày thứ 21 tới 22 của thai kì, ống tim nguyên thủy đƣợc bao quanh bởi trung mô tạng có chứa các tế bào tiền thân cơ tim, các tế bào này sẽ hợp nhất với ống tim để tạo thành cơ tim [54]. Ống tim lúc này là một ống thẳng, gồm 5 đoạn: hành động mạch chủ, hành tim, tâm thất nguyên thủy, tâm nhĩ nguyên thủy và xoang tĩnh mạch theo thứ tự từ trên xuống dƣới (hƣớng đầu-đuôi) [5]. Trong vòng 5 tuần sau đó, ống tim phát triển to, dài ra, gấp khúc để dần hình thành các buồng tim [54].
đồđồ sựsự hình thành hình phát thành triển phát của triển tim của trong tim thời trong kìkì thời bào thai bào [5] thai 5 Quá trình gấp khúc, kéo dài của ống tim có sự bành trƣớng không đều [3]: Hành động mạch chủ phát triển thành thân và nón động mạch, là nơi nối liền giữa động mạch chủ và động mạch phổi với hai tâm thất. Hành tim phát triển thành tâm thất phải. Tâm thất nguyên thủy phát triển thành tâm thất trái. Tâm nhĩ nguyên thủy phát triển sang hai bên và bao phủ lên đoạn trên của hành tim.
Đoạn nằm giữa tâm nhĩ và tâm thất nguyên thủy trở thành ống nhĩ thất chung. Xoang tĩnh mạch góp một phần lớn vào sự tạo ra tâm nhĩ vĩnh viễn. Trong quá trình phát triển, sừng trán bị tiêu biến và trở thành xoang vành. Sừng phải sát nhập vào tâm nhĩ nguyên thủy để sau này trở thành tâm nhĩ phải.
Quá trình phân tách tạo vách ngăn thành các buồng tim diễn ra trong khoảng thời gian từ ngày thứ 28 đến ngày 37 của thai kì [54]: Ống nhĩ thất chung xuất hiện vách ngăn chia thành hai buồng trái và phải. Lúc này tâm nhĩ thông với tâm thất tƣơng ứng. Sự ngăn tâm nhĩ nguyên thủy thành hai tâm nhĩ trái và phải đƣợc tiến hành nhờ tự tạo thành lần lƣợt hai vách ngăn là vách ngăn nguyên phát và vách ngăn thứ phát [3]. Tâm thất đƣợc ngăn bởi vách liên thất nguyên thủy.
Vách này xuất hiện ở đoạn đuôi và ranh giới giữa hành tim và tâm thất nguyên thủy, tạo ra đoạn cơ của vách liên thất vĩnh viễn, phát triển về phìa gờ nội tâm mạc. Sau đó hai gờ nội tâm mạc lƣng và bụng, hai mào thân nón cộng với bờ tự do của vách liên thất nguyên thủy tạo ra đoạn màng của vách liên thất vĩnh viễn. Sự phát triển của các cung động mạch chủ trong thời kì bào thai Trong thời kì bào thai, mạch máu đƣợc phát triển theo hai cơ chế: cơ chế tân tạo mạch (vasculogenesis) – mạch máu đƣợc tạo ra bởi sự hợp lại của các nguyên bào mạch và cơ chế sinh mạch (angiogenesis) – mạch máu đƣợc 6 sinh ra từ các mạch máu có sẵn. Các mạch máu lớn của cơ thể bao gồm động mạch chủ bụng và các tĩnh mạch chính đƣợc tạo ra theo cơ chế tân tạo mạch.
Các mạch máu khác của cơ thế đƣợc tạo ra theo cơ chế sinh mạch [51]. Động mạch chủ xuống đƣợc sinh ra từ ống tim nguyên thủy, còn các cung động mạch thì sinh ra từ túi động mạch. Các cung động mạch thƣờng đi song hành cùng với cung mang và sẽ kết nối với động mạch chủ lƣng. Ban đầu, các cung động mạch chủ này đối xứng từng cặp.
Tuy nhiên quá trình tái cấu trúc sẽ khiến chúng dần trở nên bất đối xứng, cùng với đó một số cung bị thoái hóa biến mất. Có tất cả 6 cung động mạch đánh số từ 1 đến 6 theo hƣớng từ đầu tới đuôi (từ trên xuống dƣới). Mô hình về sự phát triển của các cung động mạch này đƣợc miêu tả bởi Rathke (Hình 1. Các cung động mạch chủ trong quá trình phát triển phôi thai 7 Hình 1.
Mô hình của Rathke về sự phát triển của các cung động mạch chủ [46] Cung thứ nhất – thoái triển sớm nhƣng góp phần tạo thành động mạch hàm. Cung thứ hai – thoái triển sớm nhƣng góp phần tạo thành động mạch xƣơng móng và động mạch xƣơng bàn đạp. Cung thứ ba – tạo thành thân chung của động mạch cảnh và đoạn gần của động mạch cảnh trong ở cả hai bên. Cung thứ tƣ – cung thứ tƣ bên phải tạo thành đoạn gần động mạch dƣới đòn phải, cung bên trái góp phần tạo thành quai động mạch chủ.
Cung thứ năm - ở ngƣời không hình thành hoặc có nhƣng không hoàn toàn rồi thoái triển. Cung thứ sáu – ở cả hai bên cung thứ sáu tách thành nhánh lƣng và nhánh bụng. Nhánh bụng hình thành động mạch phổi. Nhánh bụng bên trái cũng góp phần tạo thành thân động mạch phổi.
Nhánh lƣng bên phải thoái triển. Nhánh lƣng bên trái tạo thành ống động mạch, ống động mạch sau khi trẻ ra đời thoái triển biến thành dây chằng động mạch. Lịch sử, định nghĩa, phân loại và dịch tễ học của dị dạng vòng mạch 1. Lịch sử và định nghĩa Thuật ngữ dị dạng vòng mạch (vascular ring) đƣợc dùng để chỉ những bất thƣờng mạch máu do sự phát triển bất thƣờng của phức hợp quai động mạch chủ [36].
Thuật ngữ này đƣợc dùng lần đầu vào năm 1945 khi Robert Gross miêu tả ca bệnh quai động mạch chủ đôi phẫu thuật thành công. Đây là một ca bệnh trẻ 5 tháng tuổi tiền sử khò khè từ sau sinh và gần đây xuất hiện thêm dấu hiệu ăn uống hay sặc. Tiến hành thăm dò cho thấy xuất hiện vòng mạch máu bao quanh gây hẹp khí quản cũng nhƣ đè lên thực quản [28]. Phân loại Có nhiều cách để phân loại dị dạng vòng mạch.
Có thể phân loại dựa trên đặc điểm giải phẫu của chúng nhƣ độ nghiêng của cung động mạch chủ, vị trí cung động mạch chủ, mức độ gián đoạn hoặc có thể phân loại theo ảnh hƣởng chức năng nhƣ ảnh hƣởng tới hô hấp hay ảnh hƣởng tới thực quản. Theo Ủy ban quốc tế về cơ sở dữ liệu và danh pháp phẫu thuật tim bẩm sinh thì dị dạng vòng mạch có thể đƣợc chia làm hai nhóm chính là dị dạng vòng mạch hoàn toàn và không hoàn toàn (Bảng 1. Trong số này thì quai động mạch chủ đôi là hay gặp nhất, chiếm tới khoảng 50%, trong số này thì hay gặp nhóm ƣu thế quai bên phải nhất lên tới 75%. Hay gặp thứ hai trong số các dị mạng vòng mạch là quai động mạch chủ bên phải với động mạch dƣới đòn trái bất thƣờng [57].