Tổng quan nghiên cứu

Dị dạng vòng mạch là nhóm bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp của quai động mạch chủ và các nhánh mạch máu lớn, chiếm tỷ lệ khoảng 1% tổng số các ca tim bẩm sinh và xuất hiện ở 1% đến 2% dân số nói chung. Bệnh lý này hình thành do sự phát triển và thoái triển bất thường của các cung động mạch phôi thai, tạo nên cấu trúc mạch máu bao quanh hoặc bắt chéo gây chèn ép cơ học trực tiếp lên khí quản và thực quản. Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng, từ thở rít, khò khè kéo dài, viêm phế quản phổi tái diễn nhiều lần cho đến nuốt nghẹn, sặc thức ăn khi chuyển sang chế độ ăn đặc. Do triệu chứng hô hấp dễ nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường như viêm tiểu phế quản hay hen phế quản, trẻ thường bị chẩn đoán muộn, dẫn đến nguy cơ nhuyễn sụn khí quản và suy hô hấp tiến triển.

Luận văn Thạc sĩ Y học của tác giả Ngô Quốc Thái, chuyên ngành Nhi khoa, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Cao Việt Tùng tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, tập trung giải quyết hai mục tiêu cốt lõi: mô tả đặc điểm chẩn đoán hình ảnh và đánh giá kết quả phẫu thuật bệnh lý dị dạng vòng mạch ở trẻ em. Đề tài được triển khai trên 65 bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn 5 năm, từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2021. Độ tuổi trung vị của nhóm nghiên cứu là 5,0 tháng tuổi. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp dữ liệu lâm sàng và hình ảnh học giá trị giúp nâng cao tỷ lệ phát hiện sớm, chuẩn hóa chỉ định phẫu thuật và cải thiện tỷ lệ sống còn cho bệnh nhi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình phôi thai học hệ tuần hoàn của Rathke và giả thuyết cung động mạch chủ của Edwards. Trong thời kỳ phôi thai từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 7, sáu cặp cung động mạch chủ xuất hiện và trải qua quá trình thoái triển có chọn lọc. Sự tồn tại bất thường của các phân đoạn mạch máu lẽ ra phải tiêu biến hoặc sự thoái triển sai vị trí sẽ dẫn đến các dạng vòng mạch khác nhau.

Hệ thống phân loại của Ủy ban Quốc tế về Cơ sở dữ liệu và Danh pháp Phẫu thuật Tim bẩm sinh được áp dụng để chia dị dạng vòng mạch thành hai nhóm chính:

  1. Vòng mạch hoàn toàn: Bao gồm quai động mạch chủ đôi (chiếm tỷ lệ cao nhất trong y văn thế giới với ưu thế quai phải lên đến 75%), quai động mạch chủ quay phải kèm ống động mạch hoặc dây chằng động mạch bên trái.
  2. Vòng mạch không hoàn toàn: Bao gồm sling động mạch phổi (động mạch phổi trái xuất phát bất thường từ động mạch phổi phải chạy vòng qua khí quản), quai động mạch chủ trái kèm động mạch dưới đòn phải bất thường xuất phát từ túi thừa Kommerell, và hội chứng chèn ép do động mạch vô danh.

Đánh giá mức độ hẹp khí quản dựa trên thang phân độ của Freitag, chia diện tích cắt ngang lòng khí quản thành 6 mức từ độ 0 (không hẹp), độ 1 (hẹp dưới 25%), độ 2 (hẹp 26% - 50%), độ 3 (hẹp 51% - 75%), độ 4 (hẹp 76% - 90%) đến độ 5 (hẹp trên 90% hoặc tắc hoàn toàn).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên cỡ mẫu thuận tiện gồm 65 bệnh nhân được chẩn đoán xác định dị dạng vòng mạch và điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2021. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng do đây là nhóm bệnh lý tim bẩm sinh hiếm gặp, cho phép thu thập toàn bộ các trường hợp đủ tiêu chuẩn trong khung thời gian nghiên cứu.

Nguồn dữ liệu bao gồm hồ sơ bệnh án kết hợp hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh y tế (PACS/INFINITI). Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh bao gồm: X-quang ngực thẳng và nghiêng (100% bệnh nhân), siêu âm tim Doppler màu (95,4% bệnh nhân), chụp cắt lớp vi tính lồng ngực đa dãy có tiêm thuốc cản quang và dựng hình 3D (95,4% bệnh nhân), cùng nội soi khí phế quản ống mềm (69,2% bệnh nhân). Các phép đo khẩu kính đường thở được thực hiện tự động và bán tự động trên phần mềm chuyên dụng.

Xử lý và phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.0. Các biến định lượng phân bố chuẩn được trình bày dưới dạng trung bình và độ lệch chuẩn; biến phân bố không chuẩn được biểu thị bằng trung vị và khoảng tứ phân vị (IQR). Các biến định tính được so sánh bằng kiểm định Chi-square hoặc Fisher's exact test. Kiểm định T-test, hệ số tương quan Spearman và phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị. Việc lựa chọn các kiểm định này đảm bảo tính chuẩn xác và phù hợp với đặc thù phân bố số liệu của mẫu nghiên cứu lâm sàng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu trên 65 bệnh nhân ghi nhận tỷ lệ nam giới chiếm 63,1% (41 trẻ) và nữ giới chiếm 36,9% (24 trẻ), tương ứng tỷ lệ nam/nữ là 1,7/1. Độ tuổi trung bình khi được chẩn đoán là 9,6 ± 13,9 tháng, với trung vị là 5,0 tháng tuổi (nhỏ nhất là sơ sinh 0 tháng, lớn nhất là 84 tháng tuổi).

Về cơ cấu bệnh học, nhóm 2 (sling động mạch phổi) chiếm tỷ lệ áp đảo với 80,0% (52 bệnh nhân). Nhóm 1 (quai động mạch chủ đôi) chiếm 9,2% (6 bệnh nhân) với độ tuổi trung vị 7,5 tháng. Nhóm 3 (các dị dạng vòng mạch khác) chiếm 10,8% (7 bệnh nhân) bao gồm quai động mạch chủ phải có vòng mạch, quai động mạch chủ trái kèm động mạch dưới đòn phải bất thường và bất thường động mạch dưới đòn trái.

Dị tật bẩm sinh phối hợp xuất hiện ở 52,3% bệnh nhân (34/65 trường hợp). Trong đó, dị tật tim mạch đứng đầu với 23 trường hợp (chiếm 35,4% tổng số bệnh nhân), dị tật hô hấp ghi nhận ở 11 trường hợp (16,9%), dị tật tiêu hóa - thận gặp ở 4 trường hợp (6,2%) và dị tật di truyền ghi nhận ở 1 trường hợp (1,5%).

Về mặt chẩn đoán hình ảnh, chụp X-quang ngực thẳng chỉ phát hiện dấu hiệu hẹp khí quản ở 16,9% bệnh nhân (11/65 ca). Trong khi đó, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (thực hiện ở 62 bệnh nhân, chiếm 95,4%) đạt độ chính xác chẩn đoán vượt trội, xác định rõ vị trí hẹp khí quản tập trung chủ yếu ở 1/3 dưới và toàn bộ chiều dài khí quản, đồng thời phân loại chính xác các mức độ hẹp theo thang điểm Freitag.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ (1,7/1) hoàn toàn phù hợp với các báo cáo trong y văn quốc tế, vốn ghi nhận tỷ lệ nam/nữ dao động từ 1,4/1 đến 1,8/1. Sự chiếm ưu thế vượt trội của nhóm sling động mạch phổi (80,0%) trong nghiên cứu này phản ánh đặc thù tuyến tiếp nhận của Bệnh viện Nhi Trung ương, nơi chuyên điều trị các ca bệnh đường thở phức tạp và chuyển tuyến từ khắp miền Bắc.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện sự phân bố của các dị tật bẩm sinh kèm theo và bảng so sánh các chỉ số hồi sức sau mổ. Khi so sánh giữa phương pháp phẫu thuật sửa mạch đơn thuần và phẫu thuật sửa mạch kết hợp tạo hình khí quản kiểu trượt (slide tracheoplasty), nhóm có tạo hình khí quản đòi hỏi thời gian chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể (bypass) dài hơn, thời gian thở máy sau mổ kéo dài hơn và thời gian lưu lại khoa hồi sức tích cực (ICU) cao hơn có ý nghĩa thống kê. Điều này tương đồng với các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, khẳng định mức độ tổn thương sụn khí quản và chiều dài đoạn hẹp là yếu tố tiên lượng then chốt đối với kết quả ngoại khoa.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Ứng dụng quy trình chụp cắt lớp vi tính lồng ngực đa dãy tái tạo 3D: Thiết lập chỉ định chụp cắt lớp vi tính cản quang lồng ngực cho 100% trẻ nhỏ có triệu chứng thở rít dai dẳng hoặc viêm phổi tái diễn trên 2 lần mà không đáp ứng với điều trị nội khoa thông thường, thực hiện trước 6 tháng tuổi nhằm mục tiêu phát hiện sớm dị dạng mạch và ngăn ngừa tổn thương nhuyễn sụn khí quản không hồi phục.
  2. Chuẩn hóa chỉ định và kỹ thuật phẫu thuật tạo hình khí quản trượt: Đơn vị Ngoại Tim mạch cần áp dụng kỹ thuật slide tracheoplasty phối hợp với chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể cho các trường hợp hẹp khí quản phức tạp do sling động mạch phổi hoặc vòng sụn hoàn toàn, phấn đấu rút ngắn thời gian thở máy trung bình sau mổ xuống dưới 7 ngày và giảm tỷ lệ biến chứng hẹp tái phát.
  3. Nâng cao năng lực sàng lọc qua siêu âm tim mạch nhi khoa: Tổ chức các chương trình đào tạo liên tục về kỹ thuật cắt siêu âm trên hõm ức và cạnh ức cao cho bác sĩ chẩn đoán hình ảnh tại các bệnh viện vệ tinh, hướng tới mục tiêu nâng độ nhạy phát hiện quai động mạch chủ đôi và sling động mạch phổi trên siêu âm tim đạt trên 85% trong giai đoạn 2024 - 2026.
  4. Xây dựng mô hình phối hợp đa chuyên khoa trong hồi sức và theo dõi sau mổ: Thiết lập quy trình phối hợp chặt chẽ giữa Ngoại khoa, Hồi sức tích cực Tim mạch và Nội Hô hấp. Đảm bảo theo dõi nội soi phế quản định kỳ tại các mốc 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau mổ để đánh giá khả năng biểu mô hóa đường thở và xử trí kịp thời tình trạng u hạt hoặc liệt cơ hoành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Nhi khoa: Luận văn cung cấp chi tiết giải phẫu các biến thể vòng mạch phức tạp, quy trình mở ngực, chỉ định chạy tuần hoàn ngoài cơ thể và các bước kỹ thuật tạo hình khí quản kiểu trượt hoặc tạo hình bằng miếng vá.
  2. Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về tiêu chuẩn chẩn đoán trên phim cắt lớp vi tính đa dãy, dấu hiệu tay bốn ngón, đánh giá túi thừa Kommerell và phương pháp đo đạc tự động khẩu kính khí quản trên hệ thống phần mềm PACS.
  3. Bác sĩ Hồi sức cấp cứu và Nội Hô hấp Nhi khoa: Hỗ trợ xây dựng phác đồ quản lý đường thở khó, chiến lược thông khí bảo vệ phổi và kinh nghiệm rút ống nội khí quản an toàn cho bệnh nhi sau phẫu thuật can thiệp mạch máu và khí quản.
  4. Học viên Sau đại học và Nghiên cứu sinh Y học: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng mô tả cắt ngang, cách xây dựng biến số nghiên cứu và phương pháp phân tích thống kê y sinh học trên nhóm bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Dị dạng vòng mạch ở trẻ em là gì và vì sao cần được chẩn đoán sớm? Dị dạng vòng mạch là bất thường bẩm sinh của hệ thống quai động mạch chủ tạo nên vòng cấu trúc mạch máu ôm lấy khí quản và thực quản. Việc chẩn đoán sớm trước 6 tháng tuổi giúp giải phóng chèn ép kịp thời, bảo tồn cấu trúc sụn khí quản và giảm thiểu nguy cơ suy hô hấp đe dọa tính mạng.

  2. Dấu hiệu lâm sàng nào điển hình nhất để nghĩ đến bệnh lý dị dạng vòng mạch? Các dấu hiệu lâm sàng điển hình bao gồm tiếng thở rít thì hít vào xuất hiện sớm sau sinh, tiếng thở khò khè liên tục không đáp ứng thuốc giãn phế quản, ho ông ổng và tình trạng nuốt nghẹn hoặc sặc thức ăn khi bắt đầu ăn dặm, kèm theo các đợt viêm phổi tái diễn nhiều lần.

  3. Phương tiện chẩn đoán hình ảnh nào đóng vai trò tiêu chuẩn vàng hiện nay? Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực đa dãy (MSCT) có tiêm thuốc cản quang kết hợp dựng hình 3D là phương tiện tiêu chuẩn vàng. Phương pháp này thực hiện ở 95,4% bệnh nhân trong nghiên cứu, cho phép đánh giá chính xác giải phẫu mạch máu, vị trí và mức độ hẹp khí quản theo thang phân độ Freitag.

  4. Mọi trường hợp dị dạng vòng mạch đều cần phẫu thuật tạo hình khí quản hay không? Không phải mọi trường hợp đều cần can thiệp khí quản. Nhiều bệnh nhân chỉ cần phẫu thuật cắt dải xơ, chia quai mạch máu để giải phóng chèn ép. Phẫu thuật tạo hình khí quản trượt (slide tracheoplasty) chỉ được chỉ định cho các ca có hẹp khí quản nặng, diện tích hẹp trên 50% hoặc kèm theo hội chứng vòng sụn hoàn toàn.

  5. Những biến chứng nguy hiểm nào có thể xảy ra sau phẫu thuật giải phóng vòng mạch? Các biến chứng sau mổ bao gồm suy hô hấp kéo dài do nhuyễn sụn khí quản chưa hồi phục, liệt cơ hoành do tổn thương dây thần kinh hoành, tràn dưỡng chấp màng phổi và hẹp khí quản tái phát. Bệnh nhân cần được theo dõi và hồi sức chuyên sâu tại các đơn vị tim mạch ngoại khoa.

Kết luận

  • Dị dạng vòng mạch là bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp, xuất hiện chủ yếu ở trẻ nam (63,1%) với độ tuổi trung vị khi được chẩn đoán là 5,0 tháng tuổi.
  • Sling động mạch phổi là dạng tổn thương chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu (80,0%), đi kèm tỷ lệ dị tật tim mạch phối hợp lên đến 35,4%.
  • Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực đa dãy tái tạo 3D và siêu âm tim là hai công cụ chẩn đoán hình ảnh chủ đạo, mang lại độ chính xác cao trong xác định hình thái mạch máu và độ hẹp khí quản.
  • Phẫu thuật giải phóng vòng mạch kết hợp tạo hình khí quản kiểu trượt đem lại hiệu quả cải thiện lâm sàng rõ rệt, giải quyết triệt để tình trạng tắc nghẽn đường thở cho bệnh nhi.
  • Các trung tâm y tế nhi khoa cần tăng cường phối hợp đa chuyên khoa và mở rộng nghiên cứu theo dõi dài hạn sau mổ nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng điều trị cho trẻ em mắc dị dạng vòng mạch.