ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm gây dịch do bốn tuýp virus Dengue (DENV) là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4 gây nên. DENV truyền từ người bệnh sang người lành qua trung gian muỗi Aedes aegypti là chủ yếu. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh SXHD đã trở nên phổ biến trên toàn cầu với số trường hợp mắc tăng nhanh chóng. Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia xảy ra dịch sốt xuất huyết nghiêm trọng, căn bệnh này hiện đang lưu hành và lan rộng trên hơn 100 quốc gia.
Châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là những khu vực bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, trong đó Châu Á chiếm ~ 70% gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Số ca mắc cao nhất trên toàn cầu được ghi nhận vào năm 2019 (1). Riêng Hoa Kỳ 3,1 triệu người mắc với 25.000 ca SXHD nặng; 4 nước Châu Á có số ca mắc cao nhất, trong đó Việt Nam 320.000 ca, đứng thứ 2 chỉ sau Philippines (WHO, 2022) (1). Tại Việt Nam, SXHD đã trở thành dịch hàng năm và cả 4 tuýp DEN đã được xác định cùng lưu hành gây bệnh.
Theo báo cáo của cục Y tế dự phòng tháng 8/2020: giai đoạn 2017-2019 có số ca mắc tăng cao nhất trong 20 năm trở lại đây; đặc biệt năm 2019, số ca mắc đạt 5000/350. Tỉ lệ người bệnh (NB) nhập viện do SXHD vào năm 2019 vượt mức trung bình giai đoạn 2012-2016 và vượt ngưỡng giá trị cảnh báo. Trên lâm sàng, bệnh SXHD có diễn biến bất thường, khó tiên lượng, vì vậy WHO và Bộ Y tế Việt Nam đã khuyến cáo một số dấu hiệu cảnh báo để phát hiện các biến chứng và nhập viện điều trị kịp thời (1, 2). Tuy nhiên, các dấu hiệu cảnh báo mang tính chủ quan nên hạn chế trên thực hành lâm sàng, đặc biệt ở trẻ em.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đề cập sử dụng các dấu ấn sinh học như các Interleukine (IL); TNF-, hematocrit, tiểu cầu, fibrinogen, creatinine, enzyme gan,… các chỉ số sinh học và các số yếu tố chủng tộc, màu da, cơ địa cũng được đề xuất nghiên cứu để tiên lượng SXHD nặng (3). Tuy nhiên, đến nay các nghiên cứu vẫn chưa nhận được sự đồng thuận 2 và đều đưa ra các khuyến cáo cần nghiên cứu về bệnh SXHD một cách toàn diện hơn (4, 5). Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng diễn biến của SXHD gây biến đổi các thành phần máu như giảm albumin huyết thanh do thoát huyết tương, giảm bạch cầu, tiểu cầu, tăng hematocrit gây cô đặc máu, rối loạn chức năng đông cầm máu, tuy nhiên chưa đầy đủ và đồng bộ (1, 6). Các trường hợp tăng men gan do sốt xuất huyết hay tổn thương gan cấp đều đã được mô tả.
Tác động lên gan thường không có triệu chứng nhưng có thể không điển hình và có mức độ nghiêm trọng khác nhau từ nồng độ transaminase tăng không có triệu chứng đến suy gan tối cấp, các biểu hiện khác nhau là một thách thức lớn đối với các bác sĩ điều trị (7). Cơ chế sinh bệnh của DENV cho đến nay vẫn chưa được giải thích rõ ràng và thống nhất; nhiều nghiên cứu cho thấy, sự biến đổi có chiều hướng tăng quá mức của các cytokine ở bênh nhân sốt xuất huyết Dengue như: TNF – α, IL-6, IL-10, IL-8, IL-1, IFN- α… có vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của sốt xuất huyết Dengue. Bởi vậy, TNF – α, IL-6, IL-10 cũng có khả năng trở thành những dấu ấn sinh học quan trọng, có giá trị trong chẩn đoán, tiên lượng và điều trị sốt xuất huyết Dengue (8). Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương (BVNĐTƯ) là bệnh viện tuyến cuối của cả nước, nơi thu dung và điều trị số ca mắc SXHD đến khám và điều trị tăng cao vào 2017 và 2019.
Cụ thể, ngay từ đầu năm 2017, bệnh SXHD đã được thông báo xuất hiện trên cả nước, ở nhiều lứa tuổi, với nhiều biến chứng nặng và nhiều trường hợp tử vong. Do tầm quan trọng của bệnh, Bộ Y tế đã thực hiện “Chương trình phòng chống bệnh SXHD” với sự hỗ trợ của chính phủ và xây dựng các hướng dẫn về chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh (1, 9). Hàng loạt các nghiên cứu về bệnh SXHD cũng đã được thực hiện, tuy nhiên các nghiên cứu này vẫn chưa đầy đủ. Việc nghiên cứu đầy đủ các dấu ấn sinh học (sinh hoá, huyết học, miễn dịch) của các trường hợp nhiễm DENV trong vụ dịch 2017 và trong các năm 2018- 2019, đánh giá các yếu tố liên quan đến tiên lượng bệnh sẽ góp phần hoàn thiện các bằng chứng khoa học về bệnh SXHD ở Việt Nam, nâng cao hiệu quả chẩn 3 đoán, điều trị, tiên lượng bệnh và đưa ra các giải pháp điều trị phù hợp kịp thời nhằm cải thiện tỉ lệ biến chứng và tử vong của người bệnh.
Trên cơ sở bộ dữ liệu lớn về SXHD tại BVNĐTƯ từ năm 2017-2019, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Đặc điểm một số dấu ấn sinh học ở người bệnh sốt xuất huyết Dengue điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương giai đoạn 2017-2019”. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá sự thay đổi một số dấu ấn sinh học (sinh hoá, huyết học, interleukin) ở người bệnh sốt xuất huyết Dengue điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương giai đoạn 2017-2019. Phân tích mối liên quan của một số dấu ấn sinh học (sinh hoá, huyết học, interleukin) với mức độ nặng của bệnh ở người bệnh sốt xuất huyết Dengue điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương giai đoạn 2017-2019.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sốt xuất huyết Dengue 1. Đại cương Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm gây dịch do virus Dengue (DENV) gây nên. DENV có 4 tuýp huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4.
Virus truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu. Bệnh xảy ra quanh năm, thường gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn.
Đặc điểm của SXHD là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong (1, 2). Tác nhân gây bệnh DENV thuộc nhóm Flavivirus họ Flaviridae là những virus nhỏ có vỏ bọc chứa RNA đơn có chiều dài khoảng 10 kb. Bộ gen của virus là một RNA sợi dương mã hóa một polyprotein được phân cắt để tạo ra 10 protein virus; 3 protein cấu trúc C (capsid), prM (màng),và E (vỏ); và 7 protein phi cấu trúc: NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và NS5 (10, 11). Protein vỏ đóng một vai trò quan trọng cho virus liên kết và xâm nhập vào tế bào chủ (12-14) và là đích chính của kháng thể trung hòa.
Các protein phi cấu trúc của DENV có chức năng trong quá trình xử lý polyprotein của virus, sao chép RNA, và lắp ráp virion (10). Một số protein phi cấu trúc cũng đóng một vai trò trong việc điều hòa các phản ứng miễn dịch của vật chủ. Các protein NS2A, NS2B, NS4B và NS5 ức chế các tín hiệu interferon loại I (IFN) (15, 16). NS5 và NS4B đã được chứng minh là tạo ra chemokine và các chất trung gian tiền viêm (17, 18).
Protein NS là đích quan trọng của hệ thống miễn dịch qua trung gian tế bào, đặc biệt là tế bào T CD8 + (19). Tại Việt Nam trong những năm qua có sự lưu hành của cả 4 tuýp DENV, tuy nhiên phổ biến hơn cả là DENV tuýp 2 (20). Nhiễm một loại tuýp DENV sẽ cung cấp khả năng miễn dịch cho tuýp DENV đó, nhưng không cung cấp khả năng miễn dịch cho tuýp khác. Do đó, một người có thể bị nhiễm 4 tuýp (21).
6 Vật chủ trung gian truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue chính là muỗi Aedes, thường là muỗi Aedes aegypti. Ngoài ra, muỗi Aedes albopictus cũng có khả năng truyền bệnh sang người nhưng với mức độ thấp hơn. Muỗi Aedes phân bố ở khắp mọi nơi từ nông thôn đến thành thị, đồng bằng, ven biển đến miền núi (20). Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue 1.1 Trên thế giới Sốt xuất huyết là bệnh do véc tơ truyền phổ biến nhất trên toàn thế giới.
DENV được truyền bởi vectơ muỗi Aedes aegypti và ở mức độ thấp hơn là Aedes albopictus, chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Mặc dù gánh nặng bệnh sốt xuất huyết cao nhất ở Đông Nam Á và các Khu vực Tây Thái Bình Dương, nơi 75% trường hợp sốt xuất huyết xảy ra, bệnh sốt xuất huyết cũng lưu hành ở Trung và Nam Mỹ và các vùng của Châu Phi. Các đợt bùng phát bệnh sốt xuất huyết lớn ở Nam Á và Trung Đông đã được báo cáo (22, 23). Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) có khoảng 3,6 tỉ người đang sống trong vùng có SXHD lưu hành, và hằng năm có tới 50 triệu đến 200 triệu ca nhiễm SXHD trong đó có 500.000 ca có biểu hiện SXHD huyết nặng và 200.000 ca tử vong liên quan đến SXHD, SXHD là bệnh do muỗi truyền chiếm tỉ lệ cao thứ 2 sau sốt rét (24).
Các trường hợp sốt xuất huyết lây truyền tại địa phương đã được báo cáo ở Châu Âu và Hoa Kỳ (2010) (25, 26). Tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, một trong những quốc gia có tỉ lệ mắc SXHD cao trong khu vực (27). Theo báo cáo của cục y tế dự phòng tháng 8/2020: giai đoạn 2017-2019 có số ca mắc tăng cao nhất trong 20 năm trở lại đây; đặc biệt năm 2019, số ca mắc đạt 5000/350. Tỉ lệ người bệnh nhập viện do SXHD vào năm 2019 vượt mức trung bình giai đoạn 2012-2016 và vượt ngưỡng giá trị cảnh báo; tỉ lệ tử vong năm 2019 tăng rõ rệt so với năm 2020.
Tần số mắc SXHD tập trung ở các tỉnh miền Nam và miền Trung (57% và 33%) (27). Về các phổ nhiễm dengue lưu hành tại Việt Nam, nghiên cứu tại huyện Ba Tri (Bến Tre) cho thấy: tuýp DEN-1 chiếm ưu thế vào năm 2006, 2007, 2009, 2014, DEN-2 chiếm ưu thế vào năm 2004, 2011; DEN- 7 3 vào năm 2010 và DEN-4 là 2012 (28). Trong vụ dịch dengue năm 2017 tại Việt Nam, tuýp DEN-1 đã được xác định là căn nguyên gây bệnh chính liên quan đến các trường hợp SXHD nặng (29, 30). Như vậy có thể thấy ở Việt Nam lưu hành cả 4 loại tuýp huyết thanh của DENV và tỉ lệ từng loại thay đổi theo từng giai đoạn cũng như giữa các vùng lãnh thổ khác nhau.