Chương 1. Gánh nặng và xu hướng BKLN và bệnh tim mạch hiện nay Hiện nay, hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm (BKLN) của Việt Nam và các nước trên thế giới đang tập trung vào các nhóm bệnh chính gồm: bệnh tim mạch (đột quỵ, suy tim, bệnh mạch vành…), tăng huyết áp (THA), đái tháo đường, các bệnh ung thư và COPD. Đây là những BKLN có tỷ lệ mắc cao và là nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật và tử vong ở người trưởng thành. Bên cạnh đó, những bệnh này có chung một số yếu tố nguy cơ có thể phòng, tránh được, vì vậy kiểm soát những yếu tố nguy cơ chung có thể phòng ngừa được đồng thời các bệnh.
Bệnh không lây còn được gọi là “bệnh mạn tính” bởi vì quá trình hình thành bệnh diễn ra trong nhiều năm, thường là bắt đầu từ tuổi trẻ, bệnh tiến triển kéo dài, đòi hỏi việc điều trị có hệ thống và lâu dài, thậm chí cả cuộc đời. Đối với các BKLN thường không xác định được nguyên nhân cụ thể mà chỉ có một nhóm yếu tố nguy cơ góp phần làm bệnh phát triển gồm: Yếu tố về hành vi lối sống như hút thuốc lá, lạm dụng rượu, bia, dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực. Tổ chức Y tế thế giới dự báo trên toàn cầu, tỷ lệ tử vong do BKLN sẽ tăng 15% trong giai đoạn 2010-2020 (khoảng 44 triệu trường hợp tửC vong). Khu vực có số tử vong do BKLN cao nhất vào năm 2020 là Đông Nam Á (10,4 triệu ca) [8].
Tổn thất tích lũy về kinh tế toàn cầu do BKLN trong giai đoạn 2011- 2025 có thể lên tới 7 ngàn tỷ USD, trung bình mỗi năm là 500 tỷ USD tương ứng với 4% thu nhập quốc nội năm 2010 của các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây, số người mắc mới bệnh tim mạch và ung thư được phát hiện tăng 50%. Mỗi ngày có 350 trường hợp mắc mới ung thu được phát hiện và có 190 người tử vong do ung thư. Sau 10 năm, từ 2002 đến 2012, tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng trên 2 lần, từ 2,7% lên 5,4%.
Trong suốt 50 năm qua, tỷ lệ người bị THA ở người trưởng thành Việt Nam luôn tăng nhanh: tăng từ 1% (năm 1960); 1,9% (năm1976), 11,7% (năm 1992), 16,3% (năm 2002) Luan van 4 tăng lên 25,1% (năm 2008) Trong thời gian 5 năm, tỷ lệ thừa cân-béo phì và béo phì tăng gấp 2 lần tương ứng từ 3,5% và 0,2% (2000) lên 6,6% và 0,4% (2005) Với tốc độ già hóa dân số, tiến trình đô thị hóa ngày càng nhanh, môi trường sống bị ô nhiễm, các yếu tố nguy cơ gây BKLN vẫn chưa được kiểm soát thì số người mắc và tử vong do BKLN được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng, nhất là nhóm bệnh tim mạch với tốc độ gia tăng nhanh chóng về số lượng người mắc, nhiều biến chứng nặng nề, điều trị tốn kém và tiên lượng tử vong cao sẽ vẫn là gánh nặng bệnh tật chủ yếu trong giai đoạn tới. Trên Thế giới Gần 80% số tử vong của các BKLN (29 triệu) xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình thấp [10] .Trong số tử vong do BKLN, tử vong chủ yếu là do các bệnh tim mạch (17 triệu người, tương ứng với 48% tử vong của các BKLN); sau đó đến ung thư (7,6 triệu người, tương ứng với 21%); và bệnh phổi mạn tính (4,2 triệu người), bao gồm hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Đái tháo đường gây ra 1,3 triệu tử vong [10]. Tử vong do các BKLN đang ngày càng ở độ tuổi trẻ hơn.
Theo số liệu của WHO năm 2011, đa số trường hợp tử vong sớm do BKLN trong độ tuổi từ 30 -70 xảy ra ở các nước đang phát triển (chiếm 85%, tương đương khoảng 11,8 triệu người). Xác suất tử vong sớm từ 30 - 70 tuổi do các BKLN chính giao động từ 10% ở các nước phát triển đến 60% ở các nước đang phát triển [11]. Trước sự đe dọa sức khỏe trên toàn cầu, trong tháng 9 năm 2011 Hội nghị cấp cao Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã ra Tuyên bố chính trị khẳng định các BKLN chủ yếu gồm bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường và COPD là một thách thức lớn của thế kỷ XXI, làm suy giảm sự phát triển kinh tế toàn cầu và đe dọa thành tựu thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ [12]. Tại Việt Nam Việt Nam cũng đang phải đối mặt với sự gia tăng ngày càng trầm trọng của các BKLN.
Cùng với sự thay đổi cấu trúc dân số, toàn cầu hóa, đô thị hóa và di dân, thay đổi môi trường, biến đổi khí hậu và thói quen sống, mô hình Luan van 5 bệnh tật cũng có nhiều sự thay đổi. Trong khi tỷ lệ mắc các bệnh do nguyên nhân nhiễm trùng đang giảm thì tỷ lệ mắc BKLN lại gia tăng đến mức báo động. Theo thống kê tại bệnh viện, trong khi tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm giảm từ 55,5% (năm 1976) xuống còn 19,8% (năm 2010) thì tỷ lệ mắc BKLN đang tăng nhanh từ 42,6% trong năm 1976 lên tới 71,6% trong năm 2010 [13]. WHO ước tính trong năm 2012 cả nước có 520.000 trường hợp tử vong do tất cả các nguyên nhân, trong đó tử vong do các BKLN chiếm tới 73% (379,600 ca).
Trong số này các bệnh tim mạch chiếm nhiều nhất là 33%, ung thư chiếm 18%, COPD chiếm 7% và ĐTĐ chiếm 3% [14]. Ước tính năm 2012, gánh nặng (DALYs) của BKLN chiếm 66,2% tổng gánh nặng bệnh tật do tất cả các nguyên nhân tại Việt Nam [15]. Trong năm 2012, gánh nặng bệnh tật (DALYs) do các bệnh tim mạch (BTM) chiếm tỷ lệ lớn nhất (13,4%) trong tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam. Các bệnh tim mạch cũng chiếm tỷ lệ tử vong lớn nhất (33%) trong tổng số tử vong.
Đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh tim do tăng huyết áp là 3 trong số 20 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu [15]. Theo kết quả nghiên cứu từ giám sát tử vong dựa trên chọn mẫu điểm toàn quốc năm 2009, tử vong do các bệnh mạch máu não chiếm hàng đầu (ở nam và nữ tương đương là 16,6% và 18% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân); tử vong do thiếu máu cơ tim ở nam và nữ tương ứng là 3,7% và 3,5% trong tổng số tử vong [16]. Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ chính dẫn đến các biến cố tim mạch nặng nề như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận và mù lòa…Trong một nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng và cộng sự năm 1996 cho thấy THA là nguyên nhân chính (chiếm 59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não [17]. Ước tính có khoảng 15,990 người bị liệt, tàn phế, mất sức lao động do tai biến mạch máu não hàng năm.
Điều tra dịch tễ học suy tim và một số nguyên nhân chính tại các tỉnh phía bắc Việt Nam năm 2003 do Viện Tim mạch phối hợp với WHO thực hiện cho thấy nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại cộng đồng là do tăng huyết áp (chiếm 10,2%), sau đó là do bệnh van tim do thấp (0,8%). Các nhóm bằng chứng kiểm soát bệnh không lây nhiễm Gánh nặng về bệnh không lây nhiễm đang là một trong những thách thức lớn với sức khỏe cộng đồng đối với tất cả các quốc gia, bất kể tình trạng kinh tế của họ. BKLN đe dọa sự phát triển kinh tế và xã hội và, nếu không có nỗ lực phối hợp ở cấp quốc gia, được dự đoán sẽ tăng mạnh trong thập kỷ tới. Việc theo dõi và giám sát cung cấp thông tin về BKLN kịp thời rất quan trọng giúp các quốc gia có thông tin cần thiết để chống lại BKLN ngay từ bây giờ hoặc lập kế hoạch cho tương lai.
Chúng là những công cụ cơ bản cho sức khỏe cộng đồng. Các hoạt động giám sát BKLN bao gồm việc thu thập thông tin y tế thường xuyên về các nhóm chỉ số tử vong, chỉ số về bệnh và các yếu tố chuyển hoá, hành vi nguy cơ và các đáp ứng của hệ thống quốc gia. Phân tích thường xuyên các chỉ số theo thời gian, địa điểm và giữa các nhóm dân cư, chia sẻ kiến thức khoa học có sẵn cũng như phổ biến kết quả thường xuyên nhằm cung cấp những bằng chứng quan trọng giúp nắm rõ tình hình và kiểm soát BKLN. Giám sát tử vong Tỷ lệ tử vong do BKLN và tổng số ca tử vong do BKLN được báo cáo cho năm 2015 cho tất cả các quốc gia có dân số lớn hơn 90,000 người.
Những số liệu này được lấy từ tỷ lệ tử vong do tất cả các nguyên nhân gây ra năm 2015 được ước tính từ các bảng tuổi thọ trung bình được sửa đổi và được công bố trên số liệu thống kê sức khỏe thế giới năm 2017 [9]. Tổng số người tử vong theo độ tuổi và giới tính được ước tính cho mỗi quốc gia bằng cách áp dụng tỷ suất tử vong này cho các quần thể cư trú ước tính do Ban Dân số Liên Hợp Quốc chuẩn bị trong bản sửa đổi năm 2015 [5]. Hệ thống đăng ký hộ tịch ghi lại các trường hợp tử vong với đầy đủ số lượng và chất lượng nguyên nhân của thông tin về các ca tử vong đã được sử dụng làm nguồn dữ liệu ưu tiên. Thông tin chi tiết về tình trạng tử vong và nguyên nhân tử vong được công bố trước đó [8].
Mặc dù dữ liệu đáng tin cậy cho tỷ lệ tử vong do nguyên nhân cụ thể rất hiếm, bệnh không lây nhiễm được ước tính có trách nhiệm cho 64% tổng số tử Luan van 7 vong ở 23 quốc gia, với 47% xảy ra ở những người trẻ hơn 70 tuổi [19]. Gánh nặng của bốn BKLN chính là bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường và bệnh phổi mạn tính đang gia tăng không cân xứng ở các nước có thu nhập thấp và dân số, trong đó bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất với 17 triệu người mỗi năm, tiếp theo là ung thư (7,6 triệu), bệnh hô hấp (4,2 triệu) và đái tháo đường (1,3 triệu). Bốn nhóm bệnh này chiếm khoảng 80% số ca tử vong do BKLN và chia sẻ bốn yếu tố nguy cơ phổ biến [20]. Khoảng 30% số người tử vong do BKLN ở các nước có thu nhập thấp và trung bình ở độ tuổi dưới 60 và đang trong giai đoạn sinh sản hiệu quả nhất.
Những ca tử vong sớm này càng bi thảm hơn vì chúng có thể phòng tránh được.