Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nhược thị (amblyopia) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm thị lực ở trẻ em, được định nghĩa là tình trạng giảm thị lực ở một hoặc hai mắt dưới 20/30 hoặc có sự khác biệt thị lực giữa hai mắt trên 2 dòng trên bảng thị lực sau khi đã được điều chỉnh kính tối ưu. Nhược thị nếu không được chẩn đoán và can thiệp kịp thời sẽ dẫn đến suy giảm thị lực vĩnh viễn, làm mất hoặc giảm khả năng lao động, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và chất lượng cuộc sống của trẻ. Phần lớn các trường hợp nhược thị hiện nay được phát hiện tương đối muộn khi đã qua "thời điểm vàng" điều trị (trước 6-8 tuổi), mặc dù các can thiệp ở độ tuổi 10-12 tuổi vẫn có thể đem lại kết quả nếu được thực hiện đúng phương pháp.

Theo các y văn quốc tế, tỷ lệ hiện mắc nhược thị dao động trong khoảng 2% đến 3% dân số nói chung và từ 0,3% đến 5% ở trẻ mầm non. Trong số các nguyên nhân chính gây nhược thị (tật khúc xạ, lác, đục thủy tinh thể, sụp mi), bất đồng khúc xạ (lệch khúc xạ) chiếm tỷ lệ áp đảo. Một nghiên cứu năm 2017 tại Bệnh viện Mắt Trung ương ghi nhận lệch khúc xạ chiếm 54,4% trong tổng số các nguyên nhân gây nhược thị ở trẻ em, tiếp theo là lác (32%) và tật khúc xạ đơn thuần (13,6%). Nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực tiễn đóng góp vào việc chuẩn hóa quy trình thăm khám và phân loại điều trị, tác giả Nguyễn Đức Toàn đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa với đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm nhược thị do lệch khúc xạ ở trẻ em tại Bệnh viện Mắt Trung ương".

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua hai mục tiêu:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của nhược thị do lệch khúc xạ ở trẻ em đến khám tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2021.
  2. Mô tả một số yếu tố liên quan với nhược thị do lệch khúc xạ ở trẻ em.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân từ 4 đến 16 tuổi có chẩn đoán nhược thị do lệch khúc xạ theo mã phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10 (mã H53 / H53.1).
  • Không gian nghiên cứu: Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Khoa Mắt trẻ em, Bệnh viện Mắt Trung ương.
  • Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu hồ sơ bệnh án được hồi cứu trong giai đoạn 5 năm, từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2021; thời gian thu thập và xử lý số liệu thực hiện từ tháng 11/2022 đến tháng 06/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm y học

Nghiên cứu dựa trên nền tảng giải phẫu học, quang học nhãn cầu và sinh lý học thị giác:

  • Hệ quang học của mắt: Giác mạc đảm nhận 2/3 công suất khúc xạ toàn bộ nhãn cầu (khoảng 45D, bán kính độ cong 7,7 mm), thể thủy tinh đảm nhận 1/3 công suất còn lại (khoảng 20-22D). Võng mạc chuyển đổi tín hiệu ánh sáng thành xung điện qua tế bào que và tế bào nón (tập trung tại hoàng điểm) để dẫn truyền qua dây thần kinh thị giác, giao thoa thị giác, thể gối ngoài đến thùy chẩm.
  • Cơ chế thị giác hai mắt: Gồm 3 cấp độ phát triển từ thấp đến cao: Đồng thị (cùng nhận biết hai hình ảnh), Hợp thị (hợp nhất hai hình ảnh tương đồng thành một), và Thị giác lập thể/thị giác nổi (Stereopsis - cảm nhận chiều sâu không gian ba chiều).
  • Khái niệm tật khúc xạ và lệch khúc xạ:
    • Mắt không chính thị gồm cận thị, viễn thị và loạn thị (loạn thị đều, loạn thị không đều; loạn thị cận, loạn thị viễn, loạn thị hỗn hợp).
    • Lệch khúc xạ (bất đồng khúc xạ) được định nghĩa khi có sự chênh lệch độ tương đương cầu (Spherical Equivalent - SE) giữa hai mắt $> 1.00\text{D}$. Công thức tính độ tương đương cầu: $$\text{SE} = \text{Độ khúc xạ cầu} + \frac{1}{2}\text{Độ trụ}$$
    • Phân loại mức độ nhược thị sau chỉnh kính tối ưu theo Hiệp hội Nhãn khoa Hoa Kỳ:
      • Nhược thị nhẹ: Thị lực từ 20/40 đến 20/30.
      • Nhược thị trung bình: Thị lực từ 20/200 đến 20/50.
      • Nhược thị nặng: Thị lực dưới 20/200.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu số liệu hồ sơ bệnh án.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện tất cả các hồ sơ bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn trong giai đoạn nghiên cứu, thu được tổng số $n = 170$ bệnh nhân (tương ứng 170 mắt nhược thị).
  • Tiêu chuẩn chọn bệnh: Trẻ từ 4 đến 16 tuổi; có tật khúc xạ ở một mắt và độ lệch khúc xạ giữa hai mắt $> 1.00\text{D}$; thị lực sau chỉnh kính tối ưu $\le 20/30$; có chẩn đoán nhược thị do lệch khúc xạ theo mã ICD-10 là H53.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Có tổn thương thực thể tại mắt gây giảm thị lực (đục thể thủy tinh bẩm sinh, sẹo giác mạc, sụp mi); có kèm lác ở một hoặc hai mắt; nhược thị cả hai mắt; phiếu khám thiếu thông tin.
  • Thu thập và phân tích dữ liệu: Trích xuất danh sách bệnh nhân từ phần mềm quản lý bệnh viện, sàng lọc bằng Microsoft Excel, nhập và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0. Các thuật toán thống kê sử dụng gồm thống kê mô tả tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình $\pm$ độ lệch chuẩn, kiểm định Chi-square ($\chi^2$) và kiểm định chính xác của Fisher (Fisher's Exact Test) với ngưỡng ý nghĩa thống kê được chọn là $p < 0,05$. Nghiên cứu đã được thông qua bởi Hội đồng khoa học Bệnh viện Mắt Trung ương và Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này hệ thống hóa các đặc điểm giải phẫu và sinh lý liên quan đến bệnh sinh nhược thị, phân tích chi tiết cơ chế thị giác hai mắt và các rối loạn phát sinh khi có sự bất đồng kích thước hình ảnh trên võng mạc (chênh lệch $0,25\text{D}$ gây chênh lệch khoảng $0,5%$ kích thước ảnh). Tác giả làm rõ cơ chế ức chế chủ động của vỏ não đối với mắt có ảnh mờ liên tục trong giai đoạn phát triển thị giác nhạy cảm (từ sơ sinh đến 6-8 tuổi).

Bên cạnh đó, chương 1 tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Các nghiên cứu quốc tế của Pokharel G. (2000), AbbasAli Yekta (2010), Schmucker C. (2012), Barrett (2013), Şeref Istek (2017) chỉ ra lệch khúc xạ là nguyên nhân gây nhược thị chiếm từ 50% đến hơn 60% các trường hợp.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam của Nguyễn Hồng Phương (2007), Nguyễn Thanh Vân (2012, 2013), Nguyễn Đức Anh (2017) xác nhận mối liên quan mật thiết giữa độ lệch khúc xạ và độ sâu của nhược thị.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu gồm 170 bệnh nhân từ 4-16 tuổi được khám tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ 01/01/2017 đến 31/12/2021. Chương này trình bày cụ thể quy trình lọc bệnh án nhiều lần khám (chỉ lấy kết quả khám lần đầu tiên), quy trình tính toán độ tương đương cầu (SE) và phân chia nhóm biến số:

  • 3 nhóm tuổi: 4 - <6 tuổi, 6 - <12 tuổi, 12 - 16 tuổi.
  • 5 hình thái tật khúc xạ: Cận thị đơn thuần, Viễn thị đơn thuần, Loạn thị đơn thuần, Loạn thị kèm cận thị, Loạn thị kèm viễn thị (xác định sau liệt điều tiết).
  • 4 mức độ lệch khúc xạ: $1,00\text{D} - \le 3,00\text{D}$, $> 3,00\text{D} - \le 5,00\text{D}$, $> 5,00\text{D} - \le 7,00\text{D}$, $> 7,00\text{D}$.
  • 3 mức độ nhược thị: Nhẹ, Trung bình, Nặng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Tác giả trình bày các phát hiện định lượng thông qua hệ thống bảng biểu và biểu đồ:

Đặc điểm khảo sát Phân nhóm Số lượng ($n=170$) Tỷ lệ (%) Giá trị $p$
Giới tính Nam 91 53,53% $p = 0,357$
Nữ 79 46,47%
Nhóm tuổi 4 - <6 tuổi 22 12,94% $\chi^2 = 77,553$
$p = 0,000$
6 - <12 tuổi 110 64,71%
12 - 16 tuổi 38 22,35%
Hình thái tật khúc xạ Loạn thị kèm viễn thị 61 35,88% $\chi^2 = 54,941$
$p = 0,000$
Loạn thị kèm cận thị 53 31,18%
Viễn thị đơn thuần 25 14,71%
Loạn thị đơn thuần 18 10,59%
Cận thị đơn thuần 13 7,65%
Độ lệch khúc xạ $1,00\text{D} - \le 3,00\text{D}$ 89 52,35% $\chi^2 = 93,388$
$p = 0,000$
$> 3,00\text{D} - \le 5,00\text{D}$ 53 31,18%
$> 5,00\text{D} - \le 7,00\text{D}$ 20 11,76%
$> 7,00\text{D}$ 8 4,71%
Mức độ nhược thị Nhược thị nhẹ 62 36,47% $\chi^2 = 19,424$
$p = 0,000$
Nhược thị trung bình 77 45,29%
Nhược thị nặng 31 18,24%

Về các yếu tố liên quan:

  • Không có mối liên quan giữa hình thái tật khúc xạ và nhóm tuổi ($p = 0,968$).
  • Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ nhược thị và nhóm tuổi ($\chi^2 = 1,278; p = 0,872$).
  • Có mối liên quan chặt chẽ giữa mức độ nhược thị và độ lệch khúc xạ ($p = 0,000$): Nhóm lệch khúc xạ $\le 3,00\text{D}$ có tỷ lệ nhược thị nhẹ là 57,3% và nhược thị nặng là 8,99%; ngược lại, nhóm lệch $> 7,00\text{D}$ có tỷ lệ nhược thị nặng lên tới 62,5% và không ghi nhận trường hợp nhược thị nhẹ nào.

Chương 4: Bàn luận

Chương bàn luận phân tích và so sánh kết quả nghiên cứu với các tác giả tiền nhiệm:

  • Về độ tuổi: Tuổi trung bình $8,84 \pm 2,46$ tuổi tương đồng với Nguyễn Hồng Phương (7,26 tuổi) và Nguyễn Thanh Vân (6,92 tuổi), thấp hơn nghiên cứu cộng đồng của Şeref Istek (13,7 tuổi). Tác giả chỉ ra nguyên nhân phát hiện muộn ở lứa tuổi học đường (6 - <12 tuổi chiếm 64,71%) là do trẻ có một mắt lành bù trừ nên thị lực hai mắt không bị ảnh hưởng rõ rệt trong sinh hoạt hàng ngày.
  • Về tật khúc xạ: Nhóm có yếu tố loạn thị chiếm tỷ lệ áp đảo (77,64%), phù hợp với Şeref Istek (53,1%). Tỷ lệ nhược thị do viễn thị đơn thuần (14,71%) cao hơn cận thị đơn thuần (7,65%) vì mắt viễn thị và loạn thị bị mờ cả khi nhìn xa lẫn nhìn gần, trong khi mắt cận thị vẫn duy trì được thị lực nhìn gần tốt.
  • Về mức độ lệch khúc xạ và nhược thị: Nhóm lệch khúc xạ $\le 5,00\text{D}$ chiếm 83,5%, phù hợp với xu hướng sàng lọc và phát hiện sớm hiện nay so với các nghiên cứu giai đoạn trước của Đỗ Quang Ngọc (71,6%) hay Sen D.K. (69,8%). Tác giả khẳng định kết luận tương đồng với y văn: độ lệch khúc xạ càng cao thì mức độ nhược thị càng sâu.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Độ tuổi trung bình của bệnh nhi nhược thị do lệch khúc xạ là $8,84 \pm 2,46$ tuổi (nhỏ nhất là 4 tuổi, lớn nhất là 16 tuổi); tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 6 - <12 tuổi (64,71%). Tỷ lệ mắc giữa nam (53,53%) và nữ (46,47%) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
  • Hình thái tật khúc xạ hay gặp nhất ở mắt nhược thị là loạn thị kèm viễn thị (35,88%) và loạn thị kèm cận thị (31,18%). Nhóm có loạn thị chiếm tổng cộng 77,64%. Cận thị đơn thuần chiếm tỷ lệ thấp nhất (7,65%).
  • Độ lệch khúc xạ trung bình là $3,92\text{D} \pm 2,06$ (nhỏ nhất 1,25D, lớn nhất 9,50D); trong đó mức lệch $1,00\text{D} - \le 3,00\text{D}$ chiếm đa số (52,35%).
  • Mức độ nhược thị trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (45,29%), tiếp đến là nhược thị nhẹ (36,47%) và nhược thị nặng (18,24%).
  • Khẳng định mối tương quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) giữa độ lệch khúc xạ và mức độ nhược thị: độ lệch khúc xạ càng lớn thì mức độ nhược thị càng nặng. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ nhược thị với nhóm tuổi ($p > 0,05$).

Đóng góp và giải pháp/kiến nghị

  • Đóng góp học thuật: Cung cấp bộ số liệu dịch tễ học và lâm sàng cập nhật giai đoạn 2017-2021 tại cơ sở nhãn khoa tuyến cuối (Bệnh viện Mắt Trung ương), làm sáng tỏ cơ cấu tật khúc xạ và mức độ bất đồng khúc xạ gây tổn hại thị lực ở trẻ em Việt Nam.
  • Khuyến nghị thực tiễn: Đề xuất tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe cho phụ huynh và phối hợp y tế học đường nhằm đẩy mạnh khám sàng lọc thị lực định kỳ cho trẻ trước tuổi đến trường, giúp phát hiện và điều chỉnh kính sớm, phòng ngừa nhược thị sâu không hồi phục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án, do đó phụ thuộc vào tính đầy đủ của thông tin ghi chép ban đầu. Cỡ mẫu nhóm cận thị đơn thuần còn tương đối nhỏ ($n = 13$), có thể chưa đại diện đầy đủ để phân tích sâu các trường hợp lệch khúc xạ mức độ thấp ở nhóm cận thị.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành các nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc với cỡ mẫu lớn hơn tại cộng đồng để đánh giá sự biến thiên của độ lệch khúc xạ theo thời gian phát triển thể chất của trẻ, đồng thời đánh giá hiệu quả phục hồi thị lực của các phương pháp điều trị nhược thị (chỉnh kính, bịt mắt, phạt thị) trên từng nhóm tật khúc xạ cụ thể.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu chuyên khảo giá trị cho:

  • Sinh viên y đa khoa, học viên sau đại học, bác sĩ nội trú chuyên ngành Nhãn khoa: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu nhược thị, quy trình tính toán độ tương đương cầu (SE) và phân loại lâm sàng khúc xạ.
  • Bác sĩ mắt trẻ em và cán bộ khúc xạ nhãn khoa: Sử dụng các dẫn liệu thực chứng về ngưỡng lệch khúc xạ có nguy cơ gây nhược thị cao (đặc biệt ở nhóm loạn thị và viễn thị) để đưa ra chỉ định chỉnh kính dự phòng sớm.
  • Cán bộ y tế học đường và nhà quản lý y tế công cộng: Tham khảo làm căn cứ xây dựng kế hoạch sàng lọc tật khúc xạ học đường định kỳ cho học sinh lứa tuổi mầm non và tiểu học.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn xác định độ lệch khúc xạ để đưa vào nghiên cứu là gì? Tiêu chuẩn chọn mẫu quy định bệnh nhân phải có độ lệch tương đương cầu (SE) giữa hai mắt lớn hơn $1,00\text{D}$ ($|\text{SE}{\text{mắt phải}} - \text{SE}{\text{mắt trái}}| > 1,00\text{D}$), kèm theo thị lực sau khi đã chỉnh kính tối ưu đạt $\le 20/30$ ở mắt có tật khúc xạ.

2. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân nhược thị do lệch khúc xạ trong nghiên cứu là bao nhiêu và nhóm tuổi nào chiếm tỷ lệ cao nhất? Độ tuổi trung bình của 170 bệnh nhi là $8,84 \pm 2,46$ tuổi (dao động từ 4 đến 16 tuổi). Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 6 đến <12 tuổi với 110 bệnh nhân, chiếm 64,71%.

3. Hình thái tật khúc xạ nào xuất hiện nhiều nhất ở các mắt bị nhược thị? Hình thái tật khúc xạ chiếm tỷ lệ cao nhất là loạn thị kèm viễn thị (35,88% với 61 mắt) và loạn thị kèm cận thị (31,18% với 53 mắt). Tổng cộng các trường hợp có yếu tố loạn thị chiếm tới 77,64% (132/170 mắt).

4. Mức độ nhược thị phân bố như thế nào và có liên quan đến độ lệch khúc xạ không? Trong 170 mắt nghiên cứu: nhược thị trung bình chiếm 45,29% (77 mắt), nhược thị nhẹ chiếm 36,47% (62 mắt) và nhược thị nặng chiếm 18,24% (31 mắt). Mức độ nhược thị có mối liên quan chặt chẽ với độ lệch khúc xạ ($p = 0,000 < 0,05$); độ lệch khúc xạ càng cao thì mức độ nhược thị càng sâu (nhóm lệch $> 7,00\text{D}$ có 62,5% nhược thị nặng, trong khi nhóm lệch $\le 3,00\text{D}$ chỉ có 8,99% nhược thị nặng).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Đức Toàn đã mô tả chi tiết đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan của nhược thị do lệch khúc xạ trên 170 bệnh nhi tại Bệnh viện Mắt Trung ương giai đoạn 2017-2021. Kết quả nghiên cứu khẳng định bệnh thường được phát hiện muộn ở lứa tuổi học đường (6 - <12 tuổi), trong đó các hình thái loạn thị phối hợp chiếm ưu thế áp đảo (77,64%). Phân tích thống kê chứng minh mối liên quan có ý nghĩa giữa độ lệch khúc xạ và độ sâu của nhược thị, cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc đẩy mạnh công tác khám sàng lọc khúc xạ sớm ở trẻ em.