Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược giải phẫu vùng cổ trước và sinh lý khí quản 1. Giải phẫu vùng cổ trước Khí quản là ống dẫn khí nằm trên đường giữa, từ đốt sống cổ 6 xuống dưới và ra sau theo đường cong của cột sống, hơi lệch sang phải, đến đốt sống ngực 4 hoặc 5 thì chia làm hai phế quản chính phải và chính trái. Khí quản được cấu tạo bởi sụn và các dây chằng, nối thanh quản ở trên và phế quản ở dưới.
Sụn khí quản không tạo thành một vòng trọn vẹn quanh khí quản mà có hình chữ C và được phủ kín phía sau bởi một lớp cơ trơn. Có khoảng 16-20 vòng sụn khí quản [4], chiều cao của hai vòng sụn bằng 1cm. Sụn Biểu mô hô hấp Lớp dưới niêm Cơ trơn Hình 1.1 Hình dạng mặt cắt ngang của khí quản (Nguồn: Gabrielle D. Ở người trưởng thành, đường kính trong khí quản ở nữ thường nhỏ hơn so với nam.
Điều này là do khí quản nữ đã đạt được kích thước đầy đủ ở tuổi 14, trong khi khí quản 4 nam tiếp tục mở rộng đường kính cho đến khi tăng trưởng hoàn toàn ở tuổi 17- 18. Khí quản nam đạt diện tích trung bình là 2,3 x 1,8cm, và khí quản nữ là 2,0 x 1,4cm [41]. Cân cơ vùng cổ trước [8]: Bụng trước cơ nhị thân Cơ hàm móng Cơ trâm móng Cơ giáp móng Bụng sau cơ nhị thân Cơ ức đòn chũm (đã cắt) Cơ ức móng Cơ ức giáp Bụng trước cơ vai móng Bụng sau cơ vai móng Hình 1.2 Các cơ vùng cổ trước (Nguồn: Jean D, 2007 [32]) - Lớp cân cơ tầng sâu cấu tạo bởi cơ ức giáp, cơ này hướng đi chếch xuống dưới vào trong. - Lớp cân cơ tầng giữa gồm cơ ức đòn móng, cơ này hướng chếch xuống dưới và ra ngoài.
- Lớp cân cơ tầng nông gồm cơ ức đòn chũm được bọc trong cân cổ nông. Cân này hợp với lớp cân cổ giữa để tạo thành đường cân trắng giữa là điểm mốc quan trọng để mở đường tìm chỗ bộc lộ khí quản. Các nguy hiểm về mạch máu [8]: 5 - Các cung mạch giáp trạng trên eo, nối các động và tĩnh mạch (TM) giáp trạng trên. Mở khí quản (MKQ) cao phải tách vén cung mạch này xuống dưới.
- Các cung mạch giáp trạng dưới eo, nối các động và TM giáp trạng giữa và dưới. MKQ thấp thường bị vướng vào cung mạch này. TM cảnh trong Xương móng Màng giáp móng Cơ giáp móng TM giáp trên ĐM giáp trên Sụn giáp Cơ nhẫn giáp Dây chằng nhẫn giáp Tuyến giáp TM giáp giữa ĐM giáp dưới Khí quản TK quặt ngược Thân ĐM giáp cổ thanh quản TM giáp dưới TK lang thang TM cánh tay đầu phải TM cánh tay đầu trái Cung ĐM chủ TM chủ trên Hình 1.3 Các mạch máu của tuyến giáp (Nguồn: Drake R. Ở đây có những TM nông và TM cảnh trước.
- Ngoài cùng là lớp da và tổ chức liên kết dưới da có nhiều tổ chức mỡ, đặc biệt dày ở trẻ nhỏ. 6 Tuyến giáp nằm phía trước cổ, áp sát vào vòng sụn khí quản, mặt ngoài mảnh sụn giáp, sụn nhẫn và các cấu trúc khác ở vùng cổ. Tuyến giáp được bọc trong một bao xơ gọi là mạc tạng. Tuyến giáp có dạng chữ H, gồm hai thùy phải và thùy trái, nối với nhau bởi eo tuyến giáp.
Eo tuyến giáp dính chặt vào các vòng sụn 2, 3, 4. Phía dưới eo tuyến giáp có đám rối TM dưới eo nhận máu của các TM nhỏ dưới eo tuyến giáp [4]. Phía sau là thực quản nằm chếch về bên trái so với khí quản, cho nên thành sau khí quản là cơ thay vì là sụn, để khi thức ăn qua thực quản, thực quản phồng lên và thành màng phía trước phải lõm vào để thức ăn đi xuống. TK quặt ngược thanh quản nằm trong vách giữa thực quản và khí quản [4].
Sinh lý khí quản Lớp biểu mô của niêm mạc khí quản có các tế bào biểu mô trụ giả tầng, chủ yếu gồm các tế bào có lông chuyển (chiếm 30% tổng số), xen kẽ với các tế bào đài tiết nhầy (chiếm 28% tổng số) [5]. Mỗi tế bào trụ lông chứa 200-300 vi nhung mao, nhu động 1000 lần/phút hoạt động nhịp nhàng với các tế bào khác tạo nên sóng nhu động. Các tế bào tiết nhầy tiết mucin mang tính a xít với đủ lượng và độ nhớt tối ưu góp phần tối quan trọng trong việc thanh thải của lớp nhầy lông [10]. Ngoài chức năng là đường dẫn khí đơn thuần, khí quản còn tham gia vào các chức năng bảo vệ: - Làm ẩm không khí đưa vào phổi góp phần làm khí vào phổi được bão hòa hơi nước.
- Điều chỉnh nhiệt độ khí hít vào: dù nhiệt độ khí hít vào rất nóng hay rất lạnh khi vào đến phế nang cũng gần bằng nhiệt độ cơ thể. Hai chức năng trên nhằm bảo vệ phế nang mỏng manh không bị tác hại. Tuy nhiên hai chức năng trên chủ yếu do mũi, hầu, miệng đảm trách. - Ngăn cản vật lạ vào đường hô hấp: chất tiết của khí quản có chứa immunoglobulin và những chất khác để tránh nhiễm trùng và giữ cho niêm mạc 7 bền vững.
Các hạt nhỏ từ 2-10µm không bị đường dẫn khí trên giữ lại sẽ bị dính vào lớp nhầy của khí quản. Sau đó chúng sẽ được đưa lên vùng hầu với vận tốc 10mm/phút. Đây là cơ chế làm sạch nhẹ nhàng và quan trọng hơn phản xạ ho [12]. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 1.
Định nghĩa viêm phổi thở máy Viêm phổi thở máy hay còn gọi là viêm phổi có liên quan đến máy thở được định nghĩa là tình trạng viêm phổi xuất hiện sau 48 giờ bệnh nhân được chỉ định thở máy mà trước đó không có bằng chứng của viêm phổi [1]. Các đường xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh Các đường vào của vi sinh vật gây bệnh thường từ [1]: - Các chất tiết từ vùng hầu họng. - Dịch dạ dày bị trào ngược. - Các dụng cụ hỗ trợ hô hấp hoặc bàn tay nhân viên y tế bị ô nhiễm.
- Đường máu, bạch mạch. Một số yếu tố nguy cơ Các yếu tố nguy cơ của viêm phổi thở máy do can thiệp y tế [1]: - Đặt nội khí quản (NKQ) hoặc MKQ. - Đặt ống thông mũi dạ dày: tăng nguy cơ trào ngược. - Các bệnh lý cần thở máy kéo dài: làm tăng nguy cơ tiếp xúc với các dụng cụ và bàn tay bị nhiễm bẩn.
Do mất cơ chế bảo vệ bình thường do ống NKQ ngăn cản cơ chế bảo vệ bình thường của cơ thể và là nơi vi khuẩn đến cư trú và phát triển, ngoài ra vi khuẩn phát triển từ chất tiết ứ đọng phía trên bóng của ống NKQ đi vào khí quản. Lòng ống NKQ bị phủ lớp màng sinh học cũng là yếu tố làm gia tăng nhiễm khuẩn. - Các yếu tố cản trở quá trình khạc đờm: phẫu thuật vùng đầu, cổ, ngực, bụng, bất động do chấn thương hoặc bệnh, dùng thuốc an thần hay hôn mê. 8 - Nuôi ăn qua đường tiêu hóa có thể gây lây chéo vi khuẩn thông qua quá trình chuẩn bị dung dịch nuôi ăn và làm cho pH dạ dày tăng lên, ngoài ra sự trào ngược và viêm phổi hít dễ xảy ra khi dạ dày gia tăng về thể tích và áp lực.
Chẩn đoán viêm phổi thở máy Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi thở máy theo Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ (American Thoracic Society) năm 2005, chẩn đoán xác định khi có 2 tiêu chuẩn (1), (2) và ít nhất có 2 trong các tiêu chuẩn (3), (4), (5), (6) và (7) [18]: (1) Đặt ống NKQ thở máy trên 48 giờ. (2) X quang phổi có hình ảnh thâm nhiễm mới, tiến triển hoặc kéo dài. (3) Nhiệt độ ≥ 38,5oC hoặc < 35oC. (4) Dịch phế quản có mủ hoặc màu vàng đặc.
(5) Bạch cầu máu ngoại vi > 10G/L hoặc < 4G/L. (7) Điểm lâm sàng nhiễm trùng phổi ≥ 6.1 Bảng điểm lâm sàng nhiễm trùng phổi (Clinical Pulmonary Infection Score-CPIS) [20] Điểm 0 1 2 Tiết đờm Ít Nhiều Nhiều + đục Thâm nhiễm trên X Không Lan tỏa Khu trú quang Nhiệt độ 36,5-38,4 38,5-38,9 ≥ 39 hoặc ≤ 36 < 4 hoặc > 11 và < 4 hoặc > Bạch cầu (T/L) 4-11 Bạch cầu đũa ≥ 11 500 >240 hoặc có ≤240 và không PaO2/FiO2 suy hô hấp cấp suy hô hấp cấp Cấy khuẩn dịch phế Âm tính Dương tính quản 9 1. Phẫu thuật mở khí quản 1. Ưu và nhược điểm của phẫu thuật mở khí quản 1.
Ưu điểm Mục đích chính của phẫu thuật MKQ là cung cấp đường thở an toàn. Các ưu điểm của phẫu thuật MKQ bao gồm [46]: - Bỏ qua tắc nghẽn đường thở trên. - Cung cấp phương tiện hỗ trợ thở máy. - Cho phép vệ sinh phổi hiệu quả hơn.
- Loại bỏ không gian chết của phổi, giảm sức cản của luồng không khí: giảm 30-50% không gian chết (không gian chết bình thường là 150mL) [42]. Nhược điểm MKQ cũng có những bất lợi cho bệnh nhân như [19]: - Loại bỏ khỏi bộ máy hô hấp toàn bộ đường hô hấp trên đảm nhiệm chủ yếu chức năng làm ẩm, làm ấm và làm sạch không khí vào phổi. - Không khí lạnh và khô trực tiếp vào phổi kích thích niêm mạc chế tiết nhiều chất nhầy hơn và lâu ngày dẫn đến teo niêm mạc khí quản. Chất nhầy chế tiết quá mức có thể gây bít tắc các tiểu phế quản phía dưới.
- Bệnh nhân ho nhiều do các phế nang bị kích thích, nhưng cơn ho không còn hiệu quả do phổi không tạo được áp suất cần thiết vì không còn sự hỗ trợ của cơ chế gia tăng áp lực khi đóng thanh môn. - Bệnh nhân bị khó nuốt do ống MKQ nẹp vào thanh quản và ngăn chặn thanh quản đi lên bình thường. Kỹ thuật mở khí quản 1. Đường rạch trên da Đường vào dưới da có thể là vết rạch ngang hoặc vết rạch dọc.
Có nhiều ý kiến cho rằng ở người trẻ vết rạch ngang sẽ thẩm mỹ hơn, tuy nhiên không có bằng chứng vết sẹo của đường rạch ngang sẽ mang tính thẩm mỹ cao hơn 10 đường rạch dọc [19], thông thường các phẫu thuật viên sẽ thích đường rạch dọc hơn vì khi tiến hành đi vào đường trắng giữa nên sẽ ít chảy máu hơn. Đường mổ trên da được thực hiện giữa sụn nhẫn và khuyết cảnh xương ức. Độ dài của vết mổ này phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật và độ sâu của mô dưới da qua khí quản. Thông thường, vết mổ dài từ 2 đến 4cm [19].