Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm của Toxocara canis, Strongyloides stercoralis, Echinococcus Việt Nam là nước có nhiều điều kiện thuận lợi cho bệnh giun, sán tồn tại và phát triển. Theo điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng, 95% người Việt Nam nhiễm bệnh giun, sán rất cao có thể nhiễm từ 1 - 3 loài giun. Đặc biệt khu vực Miền Bắc có tỉ lệ nhiễm là 60% đến 70% [7].
Động vật bị bệnh có chứa ấu trùng Toxocara canis, Echinococus chủ yếu ảnh hưởng đến chó con gây ra dấu hiệu viêm ruột và có thể lây truyền sang người qua đường tiêu hóa, da. Đặc điểm của Toxocara canis Giun đũa chó tên khoa học là Toxocara canis (T. canis là một loại giun tròn, sống ký sinh phổ biến ở chó, trứng theo phân ra ngoài và phát tán trong không khí, đất, nước, thực phẩm. canis phụ thuộc vào sự phân bố của ký chủ là chó, mèo, chính vì vậy tỉ lệ nuôi chó càng nhiều nếu không được tẩy giun định kỳ dẫn đến khả năng dễ phát tán và lây nhiễm bệnh khắp nơi trên thế giới ngày càng cao [21], [36].
Trong số các loài giun thuộc giống T. canis thì chỉ có 2 loài T. cati (giun đũa mèo) được chứng minh là tác nhân gây bệnh cho người, vật chủ của T. canis là chó và T.
cati là mèo. Phân loại Toxocara spp thuộc giới: Animanila, ngành: Nematoda, lớp: Secernentea, bộ: Ascaridida, họ : Toxocaridae, chi: Toxocara, loài: T. Hình thể Toxocara canis Toxocara canis trưởng thành có hình dạng giống giun đũa giai đoạn trẻ, màu trắng vàng, kích thước bằng que tăm, kích thước con đực 4 - 6 cm, con cái 4 5 - 10 cm, 3 cặp môi, các móc của giun ở phần cổ hẹp đoạn cuối. Trứng có màu nâu đen, hình cầu hoặc tròn và dày.
Vỏ trứng có các lỗ như bị rổ, kích thước 85 µm x 75 µm. Ấu trùng có kích thước 400 µm x 20 µm [27]. Khả năng gây bệnh Toxocara canis Ở chó T. canis lây trực tiếp bằng đường tiêu hóa, gián tiếp bằng cách ăn các vật chủ ăn thịt, thực phẩm chứa T.
Trứng, ấu trùng T. canis thải ra ngoài qua đường phân, đường tiêu hóa của chó [12]. Khi chó cái nuốt phải trứng có ấu trùng của T. canis, trứng nở trong dạ dày và ruột non, trứng giải phóng ấu trùng giai đoạn 2 xâm nhập vào thành ruột, theo đường máu di chuyển khắp nơi trong cơ thể.
Khoảng một tuần sau, tất cả ấu trùng giai đoạn 2 đã có mặt trong nhu mô gan, phổi, thận, não. Khi chó có thai, ấu trùng xâm nhập vào thai bằng cách xuyên qua bánh nhau, lây truyền qua đường sữa, theo máu đến gan, phổi của thai, thường do chó mẹ bị nhiễm T. canis từ năm trước [30]. Khả năng lây nhiễm còn tùy thuộc vào điều kiện môi trường thích hợp cho trứng phát triển trứng, ấu trùng phát triển, chó con có thể lây nhiễm từ trứng có ấu trùng 3 tuần sau sinh, T.
canis sẽ phát triển và trưởng thành ở ruột, tình trạng nhiễm T. canis có thể kéo dài hàng năm nếu chó không được tẩy giun định kỳ. Ở người là vật chủ ngẫu nhiên, T. canis lây gián tiếp bằng cách tiếp xúc tay với các vật bị nhiễm ấu trùng T.
canis, thực phẩm có chứa ấu trùng: rau sống, nước, thịt động vật, nội tạng chưa được nấu chín. Ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng, xâm nhập thành ruột theo máu đến gan, phổi và những cơ quan khác: ở những cơ quan này, ấu trùng di chuyển hàng tuần hay hàng tháng não, mắt, tim.hoặc ấu trùng ở “trạng thái im lặng” thành những vật lạ gây viêm và kích thích tạo ra u hạt [12], [47].1 Chu trình phát triển Toxocara canis [38]. Đặc điểm của Strongyloides stercoralis Phân loại Strongyloididae thuộc giới: Animanila, ngành: Nematoda, lớp: Secernentea, bộ: Rhabditida, họ: Strongyloididae, chi: Strongyloides, loài: Strongyloides stercoralis [27], [28]. Hình thể Strongyloides stercoralis Giun lươn tên khoa học là Strongyloides stercoralis (S.
Stercoralis), hình dạng giống như con lươn, đầu thon dài, thực quản hình ống có u phình, kích thước con đực khoảng 0,7mm, đuôi nhọn và cong, có gai giao hợp, kích thước con cái khoảng 1mm và có khả năng trinh sản, tử cung chứa từ 30 - 50 trứng. stercoralis hình bầu dục, kích thước từ 40 - 50 µm, lớp vỏ trứng S. stercoralis mỏng láng và trong suốt, trứng nở thành ấu trùng. stercoralis với thực quản có u phình, dài khoảng 200 µm, rất di động và có khả năng xâm nhập qua da người hoặc sống tự do ở ngoại cảnh bên ngoài [21].
Nhiều tác giả nghiên cứu rằng giun cái dạng ký sinh giao hợp với giun đực trong phổi. stercoralis sau khi giao hợp giun đực chết, có thể bị tống ra ngoài khi ký chủ ho vì thế không tìm thấy giun đực trong phổi, giun cái có khả năng sinh sản trinh sản. stercoralis lây qua đường tiêu hóa, qua da khi đi chân đất, tiếp xúc đất [3].2 Chu trình phát triển S. Khả năng gây bệnh S.
stercoralis sinh sản trinh sản sống ở ruột non và đẻ trứng trong thành ruột, trong trường hợp tiêu chảy, phân lưu thông quá nhanh mới có thể tìm thấy trứng trong phân. Điều kiện môi trường ngoại cảnh như khí hậu nóng ẩm thích 7 hợp cho trứng S. stercoralis nở thành ấu trùng, ấu trùng trong đất bị ô nhiễm có thể xâm nhập vào da ký chủ để vào người bắt đầu chu trình ký sinh. Sau khi xuyên qua da ấu trùng theo máu vào tim đến phổi, đến ngã tự hô hấp - tiêu hóa và cuối cùng để định vị ở tá tràng [28], [42].
Những người táo bón có thể chuyển thành ấu trùng có thực quản hình ống, chúng lột xác hai lần và trở thành giun cái trưởng thành. Giun sinh sản trinh sản, chính sự tự nhiễm này giải thích những trường hợp nhiễm nặng có khi gây tử vong và những trường hợp nhiễm mạn tính (10 - 15 năm) trong khi đời sống S. stercoralis tương đối ngắn 3 - 4 tháng [11], [29]. Đặc điểm của Echinococcus Phân loại Echinococcus thuộc lớp: Cestoda, chi: Echinococcus, loài: E.
Sán dãi chó còn gọi là bệnh nang sán chó, bệnh kén sán chó, bệnh sán dây chó và có tên khoa học là Echinococcosis thuộc giống Echinococcus [37]. Sáu loài Echinococcus đã được biết đến, nhưng có bốn loài trong số đó là nguyên nhân gây bệnh cho người: Echinococcus granulosus (gây bệnh nang sán), Echinoccus multilocularis (gây bệnh bạch cầu phế nang), E. Hình thể Echinococcus Echinococcus trưởng thành dài khoảng 3 - 6 mm, đầu có 4 đĩa hút và một hàng móc đôi, thân gồm 4 đốt, đốt sán cuối cùng là đốt già nhất chứa khoảng 400- 800 trứng. Trứng của Echinococcus granulosus (E.
granulosus) khoảng 45 x 35 µm, rất giống trứng sán dây lợn, bò [5], [6]. Nang non của E. granulosus là những túi hình cầu, dạng khối, bao gồm một lớp mầm bên trong và một lớp tế bào bên ngoài [28], [34], [46]. 8 Khả năng gây bệnh Echinococcus granulosus Bệnh nhiễm Echinococcosis là một bệnh ác tính ở người và gây tử vong [9].
Bệnh nhiễm Echinococcus khởi đầu thường không có triệu chứng, tình trạng này có thể kéo dài nhiều năm [8]. granulosus định vị ở gan (70% trường hợp) đến phổi (15% trường hợp) hoặc theo hệ tuần hoàn đến định vị ở bất cứ nơi nào của cơ thể như ruột, phổi, não, thận, lách, tụy, xương. Biểu hiện của bệnh tùy thuộc vào vị trí và kích thước của nang [46]. Khi nang bị vỡ, dịch trong nang chứa đầu sán lan tràn khắp nơi trong cơ thể gây hiện tượng dị ứng như nổi mày đay, sốc phản vệ nhất là ở gan, màng bụng, màng phổi,.
nhưng không phát triển thành sán trưởng thành [34], [39], [45]. Ở chó Echinococcus granulosus trưởng thành sống ở chó, đốt cuối của Echinococcus theo phân ra ngoài hoặc vỡ trong ruột, phóng thích trứng [37]. Những động vật ăn cỏ, nhất là cừu bò, trâu, ngựa bị nhiễm do ăn phải cỏ bị vấy bẩn phân chó. Sự hiện diện của ấu trùng hydatid gây một phản ứng phòng vệ và vì thế xung quanh ấu trùng phát sinh một màng cứng có thớ, ấu trùng tạo thành nang sán dây Echinococcus.
Nang này lớn nhanh hay chậm tùy theo cơ quan bị nhiễm mềm hay cứng [43], [46]. Trong ruột của chó, đầu sán được phóng thích, nhô ra bám vào màng ruột và mỗi đầu sẽ cho sán trưởng thành trong vòng 6 tuần. Nếu không gặp ký chủ vĩnh viễn, nang sẽ hóa vôi, thoái hóa và chết [39], [49]. Ở người có thể tình cờ bị nhiễm khi vuốt ve chó và sờ tay vào miệng hoặc qua thức ăn bị nhiễm trứng sán.
Trứng vào đến dạ dày, dịch vị làm tan vỡ vỏ và phôi 6 móc xuyên qua thành dạ dày vào máu theo tĩnh mạch cửa vào gan. Khi đến nơi định vị, phôi 6 móc thành ấu trùng có dạng bướu [46]. Vật chủ chính Echinococcus là chó, cừu, cáo. Sau khi ký sinh và phát triển trong ruột chó, đốt sán già tự động di chuyển ra ngoài hậu môn và bị vỡ làm trứng sán tung ra khắp nơi.
Khi đốt sán ra ngoài hậu môn sẽ kích thích gây 9 ngứa, chó liếm hậu môn rồi liếm lông nên lông chó cũng bị dính nhiều trứng sán và dễ dàng lây nhiễm cho các vật chủ phụ khác như cừu, trâu, bò, ngựa, dê, lợn [39]. Cừu là vật chủ phụ chủ yếu và người là vật chủ phụ tình cờ. Trứng của loài sán này theo phân chó ra ngoài có thể sống từ vài tuần đến vài tháng trong đất, rau, cỏ. Khi người ăn rau sống hoặc vuốt ve chó, trứng sán dính vào tay, người hoặc động vật nuốt phải trứng sán đến tá tràng ấu trùng được giải phóng ra và xuyên qua thành ruột, theo tĩnh mạch, bạch mạch, vào hệ thống tuần hoàn đi khắp cơ thể vào cơ thể theo đường tiêu hóa xuyên thành ruột theo máu đến phổi, gan, lách, não và một số cơ quan khác.
Tại đây trứng lớn dần thành ấu nang có dạng bướu. Khi bướu vỡ gây ngứa, nổi mày đay, gây sốt, rối loạn tiêu hóa, khó thở, tím tái, hôn mê. Nếu chất dịch trong bướu và máu có thể gây sốc phản vệ [32], [47].3 Chu trình phát triển Echinococcus [38]. Tình hình nhiễm T.
stercoralis, Echinococcus và một số yếu tố liên quan 1. Tình hình nhiễm T. stercoralis, Echinococcus Tại Việt Nam, tỉ lệ nhiễm T. Tỉ lệ nhiễm S.
stercoralis là 9,2% Tỉ lệ nhiễm Echinococcus chiếm tỉ lệ 8,8%. canis chiếm tỉ lệ 23,8%, có 7/199 người đa nhiễm chiếm tỉ lệ 3,5%, tỉ lệ nhiễm chung là 105/368 người chiếm 28,5% [12], [13], [33]. Nghiên cứu của Lê Thị Cẩm Ly năm 2015 trên bệnh nhân nghi nhiễm ấu trùng T. canis tại Bệnh viện nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỉ lệ nhiễm T.
Tỉ lệ nhiễm T.