ĐẶT VẤN ĐỀ Tháng 12 năm 2019, WHO nhận được báo cáo về những ca viêm phổi không rõ nguyên nhân tại thanh phố Vũ Hán (Hồ Bắc, Trung Quốc). Căn nguyên gây bệnh nhanh chóng được xác định là một loại Coronavirus mới, khác với SARS-CoV và MERS-CoV. Ngày 11/2/2020, Ủy ban quốc tế về phân loại virus đặt tên cho virus này là SARS-CoV- 2 và trong cùng ngày, WHO đặt tên cho bệnh viêm phổi do Coronavirus mới là COVID- 19 [1],[2]. Ngay sau khi những ca mắc bệnh đầu tiên được báo cáo, COVID-19 nhanh chóng bùng phát thành dịch tại Trung Quốc và tiếp theo đó lan rộng ra toàn thế giới.
Tính đến thời điểm hiện tại, dịch COVID-19 trên thế giới vẫn đang diễn biến phức tạp. SARS- CoV-2 là một betacoronavirus với vật chất di truyền là RNA chuỗi đơn với 4 protein cấu trúc chính bao gồm protein gai (S), vỏ (E), màng (M) và nucleocapsid (N). Sau khi nhiễm virus, hệ miễn dịch của cơ thể đáp ứng bằng cách sinh ra các kháng thể chống lại các thành phần kháng nguyên của virus[3][7]. Tính đến ngày 5 tháng 11 năm 2021, hơn 248 triệu ca nhiễm SARS-CoV-2 được xác nhận và hơn 5 triệu trường hợp tử vong đã được báo cáo trên toàn thế giới theo thống kê của WHO [9][12].
Do đó, việc tìm hiểu về hệ thống miễn dịch phản ứng do nhiễm SARS-CoV-2 cũng như thời gian đáp ứng miễn dịch của người nhiễm virus, người đã được tiêm vaccine chống SARS-CoV-2 mang tính cấp thiết, quan trọng [10][12]. Để xác định hiệu quả và đáp ứng miễn dịch đối với việc tiêm chủng, tỷ lệ tái nhiễm và các yếu tố nguy cơ của hội chứng sau COVID, định lượng nồng độ kháng thể chống SARS-CoV-2 là việc cần thiết để hiểu sâu hơn về khả năng miễn dịch và mối liên quan của nó với mức độ nghiêm trọng của bệnh [11][12]. Hiện trên thế giới đã có những đề tài liên quan đến định lượng nồng độ kháng thể chống SARS-CoV-2. Tại Đức, Catharina Gerhardsa và cộng sự đã đánh giá về động lực học kháng thể chống SARS-CoV-2 và các đặc điểm lâm sàng sau khi điều trị bệnh đã chỉ ra rằng các kết quả chứng minh hiệu giá kháng thể kháng SARS-CoV-2 ổn định và do đó có thể cho thấy khả năng miễn dịch lâu dài.
Kết quả phù hợp với dữ liệu được thu thập và cung cấp thêm thông tin chi tiết liên quan đến những bệnh nhân bị ảnh hưởng nhẹ không 7 có triệu chứng, mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, và các triệu chứng sau nhiễm SARS-CoV-2 [12]. Tại Anh, nghiên cứu của Peter Chen và cộng sự khi tìm hiểu về kháng thể trung hòa SARS-CoV-2 LY-CoV555 ở bệnh nhân ngoại trú với Covid-19 đã chỉ ra rằng kháng thể trung hòa CoV-555 dường như đẩy nhanh sự suy giảm tự nhiên của tải lượng vi-rút theo thời gian [13]. Đặc điểm chung của hai nghiên cứu này là các tác giả đều sử dụng phương pháp định lượng kháng thể chống lại SARS-CoV-2 trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Từ đó có thể thấy rằng việc định lượng kháng thể chống SARS-CoV-2 là cần thiết khi thực hiện những nghiên cứu dịch tễ học liên quan đến miễn dịch cộng đồng, khả năng miễn dịch của người tiêm vaccine cũng như theo dõi quá trình điều trị của những bệnh nhân nhiễm bệnh [11][12][13].
Các nghiên cứu trên thực hiện xét nghiệm định lượng kháng thể trên máy miễn dịch tự động theo nguyên lí điện hóa phát quang, với ưu điểm là có độ chính xác cao tuy nhiên cần đầu tư hệ thống máy móc đắt tiền đáp ứng tiêu chuẩn của phòng xét nghiệm. Hiện tại các nước đang phát triển đã có rất nhiều phương pháp để định lượng kháng thể chống SARS-CoV-2 trong đó có phương pháp ELISA, điểm mạnh của phương pháp này là dễ dàng triển khai tuy nhiên cần xác định giá trị sử dụng trước khi đưa vào thực hiện đại trà tại các cơ sở nghiên cứu, điều trị bệnh đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, điều tra dịch tễ trong nước, cũng như đáp ứng nhu cầu trong quá trình theo dõi, điều trị bệnh cho bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2. Việc nghiên cứu, đánh giá dịch tễ hiệu quả của việc tiêm vaccine chống virus SARS-CoV-2 trong cộng đồng là rất quan trọng. Giúp các nhà nghiên cứu đưa ra giải pháp trong bối cảnh (theo thông tin cập nhật trên Cổng tiêm chủng Quốc gia tính đến trưa ngày 11/10/2021), cả nước đã tiêm 54,935,607 liều vaccine COVID-19.
Tỷ lệ tiêm ít nhất 01 liều vaccine là khoảng gần 54% và tỷ lệ tiêm đủ 02 liều vaccine là hơn 21% dân số từ 18 tuổi trở lên [6]. Việc xét nghiệm kháng thể chống SARS-CoV-2 trong cộng đồng hiện nay còn nhiều tranh cãi, tuy nhiên với mục đích nghiên cứu đưa ra các giải pháp các nhà nghiên cứu cần triển khai xét nghiệm định lượng kháng thể chống SARS-CoV-2 trong cộng đồng. Xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp là một nội dung rất quan trọng trong việc quản lý chất lượng xét nghiệm. Với quyết định 2429 đây là yêu cầu bắt buộc (tiêu chí 8 3*) để các phòng xét nghiệm đạt mức 3 trở lên.
Đối với ISO 15189 thì đây là hồ sơ bắt buộc nếu muốn công nhận đạt ISO. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan, Tạ Thành Văn khi đánh giá phương pháp và giá trị lâm sàng của xét nghiệm Anti-SARS-CoV-2 trên hệ thống máy tự động Roche Cobas E801 năm 2020 đã chỉ ra xét nghiệm phát hiện kháng thể tổng số chống lại protein N của SARS-CoV-2 sử dụng bộ kit Elecsys Anti-SARS-CoV-2 trên máy Cobas e801 có độ chụm, độ đặc hiệu phù hợp với công bố của nhà sản xuất, độ nhạy và độ đặc hiệu chẩn đoán có giá trị thấp hơn với công bố của nhà sản xuất, trong tình trạng nguy cấp của đại dịch COVID-19 có thể đưa xét nghiệm vào sử dụng thường quy nhằm đánh giá tình trạng miễn dịch cộng đồng với virus SARS-CoV-2[7]. Nghiên cứu này đã xác định giá trị sử dụng của phương pháp xét nghiệm trên hệ thống máy xét nghiệm Cobas nhưng chưa đề cập đến độ chính xác của phương pháp khi định lượng nồng độ kháng thể trên mẫu huyết thanh của bệnh nhân khi so sánh với phương pháp xét nghiệm khác, cũng như cần đầu tư nguồn kinh phí lớn khi tiến hành xét nghiệm tại các cơ sở y tế địa phương. Cùng với đó, nghiên cứu của Ngô Thu Hường khi xác định chất lượng bộ sinh phẩm Polyvac - SARS-CoV-2 IgG/M ELISA chẩn đoán phát hiện kháng thể SARS-COV-2 trên các mẫu lâm sàng không đề cập đến độ chính xác khi định lượng nồng độ kháng thể mà nhằm mục đích xét nghiệm phát hiện tiền sử bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 [14].
Kĩ thuật xét nghiệm ELISA có khả năng định lượng nồng độ kháng thể có trong mẫu huyết thanh của bệnh nhân tuy nhiên chưa có nghiên cứu trong nước đánh giá giá trị sử dụng của phương pháp này. Việc xét nghiệm định lượng kháng thể virus giúp chúng ta biết được nồng độ kháng thể trong máu, nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu nào công bố về việc nồng độ kháng thể bao nhiêu là an toàn. Vì vậy, nghiên cứu “Xác định giá trị sử dụng của phương pháp xét nghiệm ELISA định lượng nồng độ kháng thể chống SARS-CoV-2 trên máy miễn dịch bán tự động tại trường Đại học Y tế công cộng năm 2022.” với mục đích xác nhận giá trị sử dụng của máy xét nghiệm miễn dịch ELISA bán tự động với KIT xét nghiệm kháng thể chống virus SARS-CoV-2 bằng phương pháp ELISA bán tự động theo hướng dẫn CLSI/EP15A3 và EP05A3 sẽ xác định thêm một công cụ giúp xét nghiệm định 9 lượng nồng độ kháng thể chống SARS-CoV-2 phục vụ cho mục đích nghiên cứu cũng như khả năng theo dõi điều trị bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 tại cơ sở y tế địa phương. 10 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu 1: Đánh giá độ chụm.
đánh giá độ đúng. đánh giá khoảng tuyến tính của phương pháp ELISA định lượng nồng độ kháng thể chống SARS-CoV-2. Mục tiêu 2: Xác định khoảng tham chiếu của phương pháp xét nghiệm ELISA định lượng nồng độ kháng thể chống SARS-COV-2 trên máy miễn dịch bán tự động. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm, phương pháp sử dụng trong nghiên cứu 1. Một số khái niệm về quản lí chất lượng 1. Quản lí chất lượng xét nghiệm Quản lý chất lượng xét nghiệm là các hoạt động phối hợp để định hướng và kiểm soát của phòng xét nghiệm về chất lượng xét nghiệm, bao gồm lập kế hoạch, kiểm soát, bảo đảm và cải tiến chất lượng xét nghiệm [4]. Các phòng xét nghiệm tạo ra kết quả xét nghiệm được sử dụng rộng rãi trong các cơ sở y tế công cộng và lâm sàng, kết quả sức khỏe phụ thuộc vào độ chính xác của xét nghiệm và báo cáo.
Chính vì vậy, chất lượng của các xét nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh. Nếu kết quả không chính xác, hậu quả có thể rất nghiêm trọng, bao gồm: Điều trị không cần thiết, gây ra biến chứng điều trị, điều trị không thích hợp, chậm trễ trong chẩn đoán chính xác. Những hậu quả này dẫn đến tăng chi phí, thời gian và ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Mục đích của việc kiểm tra chất lượng xét nghiệm để phát hiện ra các sai số trong quá trình làm xét nghiệm, qua đó hạn chế đến mức tối đa các sai sót nhằm đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác.
Đảm bảo chất lượng xét nghiệm cần thực hiện tốt ba giai đoạn của quá trình xét nghiệm: Trước, trong và sau xét nghiệm. Thẩm định phương pháp Thẩm định (Validation) là khẳng định bằng kiểm tra và đưa ra các bằng chứng khách quan cho thấy các yêu cầu cụ thể của một phương pháp định sử dụng có thể đáp ứng được. Xác nhận phương pháp Mục đích chính của xác nhận phương pháp là đánh giá sai số để chứng minh rằng trước khi trả kết quả xét nghiệm cho bệnh nhân phương pháp đã được đánh giá các tiêu chuẩn hiệu năng như độ chụm, độ xác thực, khoảng tuyến tính, giới hạn tham chiếu và khẳng định kết quả hoàn toàn có thể tin cậy được. Ngay cả khi phương pháp đã được nhà sản 12 xuất đưa ra các thông số kỹ thuật thì xác nhận phương pháp giúp phòng xét nghiệm có thể so sánh với nhà sản xuất và đưa ra các thông số thích hợp cho chính phòng xét nghiệm.
Và những thông số như trên khẳng định chắc chắn rằng phương pháp phân tích không ảnh hưởng đến việc phiên giải kết quả và chăm sóc cho bệnh nhân [7].