ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết-Dengue là bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi-rút Dengue gây ra. Bệnh đƣợc lây truyền qua trung gian của muỗi Aedes agypti, có thể gây nên những trận dịch lớn. Bệnh có thể dẫn đến sốc, tử vong nếu không đƣợc chẩn đoán sớm, điều trị thích hợp và kịp thời [33]. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, tỉ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết- Dengue đã gia tăng đáng kể trong những thập niên gần đây.
Hiện nay, trên toàn thế giới có khoảng 2,5 tỷ ngƣời (gần 40% dân số thế giới) đang sống trong vùng dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết-Dengue. Mỗi năm có khoảng 50-100 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt xuất huyết-Dengue, trong đó có 500.000 trƣờng hợp mắc bệnh sốt xuất huyết-Dengue nặng và có 2,5% trƣờng hợp tử vong. Khoảng 90% các trƣờng hợp tử vong do bệnh sốt xuất huyết-Dengue xảy ra ở trẻ dƣới 15 tuổi. Bệnh đã có mặt hơn 100 quốc gia và khu vực trên thế giới, trong đó châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng là khu vực bị ảnh hƣởng nghiêm trọng nhất [53].
Ở nƣớc ta, bệnh sốt xuất huyết-Dengue xảy ra quanh năm nhƣng tập trung nhiều nhất là các tháng mùa mƣa. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long là nơi chiếm đa số các trƣờng hợp mắc bệnh của cả nƣớc, trên 85% trƣờng hợp mắc bệnh và 90% trƣờng hợp tử vong do bệnh sốt xuất huyết-Dengue là ở các tỉnh phía nam Việt Nam.138 trƣờng hợp mắc bệnh và 42 trƣờng hợp tử vong. Đây là vấn đề lo lắng, quan tâm của Bộ y tế, chính quyền địa phƣơng, gia đình bệnh nhân và thầy thuốc [9], [10]. Hiện nay, sốt xuất huyết-Dengue là bệnh chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu và chƣa có vắc-xin dự phòng [40], đồng thời bệnh vẫn còn diễn biến khá phức tạp với nhiều dạng bệnh nặng, điều trị rất khó khăn và tốn kém.
Biểu hiện lâm sàng không chỉ có sốt, xuất huyết da niêm, gan to và sốc mà còn có thể biểu hiện suy đa tạng nhƣ viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim…vv, do đó việc nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết-Dengue sẽ góp phần giúp bác sĩ lâm sàng chẩn đoán bệnh sớm, điều trị kịp thời và đạt hiệu quả điều trị cao hơn. 2 Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mô tả kết quả điều trị trẻ 2 tháng đến 15 tuổi bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2014-2015” với 2 mục tiêu cụ thể nhƣ sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi bệnh sốt xuất huyết-Dengue tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2014-2015. Mô tả kết quả điều trị trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi bệnh sốt xuất huyết- Dengue tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2014-2015.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lƣợc về bệnh sốt xuất huyết-Dengue 1.1 Định nghĩa bệnh sốt xuất huyết-Dengue Sốt xuất huyết-Dengue (SXH-D) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi-rút Dengue gây nên, lây truyền chủ yếu qua trung gian muỗi vằn Aedes agyti. Đặc điểm của bệnh SXH-D là sốt, xuất huyết và thoát huyết tƣơng, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không đƣợc chẩn đoán sớm và xử lý kịp thời dễ dẫn đến tử vong [29].2 Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết-Dengue 1.1 Phân bố địa lý Bệnh SXH-D lƣu hành ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Châu Á, bệnh lƣu hành ở hầu hết các quốc gia. Bệnh gặp ở thành thị, nông thôn và miền núi, nhất là các khu vực có mật độ dân cƣ đông đúc.
Việt Nam là vùng dịch lƣu hành của bệnh SXH-D, chủ yếu ở các tỉnh miền Nam và Nam Trung bộ [8].2 Phân bố theo thời gian Bệnh SXH-D thƣờng xuất hiện và gây thành dịch vào các tháng mùa mƣa hoặc tháng có nhiệt độ trung bình cao. Ở miền Nam nƣớc ta, bệnh SXH-D xuất hiện gần nhƣ quanh năm, ở miền Bắc thƣờng xuất hiện từ tháng 7 tới tháng 11[8].3 Đối tượng mắc bệnh Bệnh SXH-D gặp ở trẻ em lẫn ngƣời lớn nhƣng nhiều nhất là ở trẻ em. Tỉ lệ mắc bệnh của nam và nữ bằng nhau [13].3 Tác nhân gây bệnh Các vi-rút Dengue thuộc giống Flavivirus, thuộc họ Flaviviridae. Về phƣơng diện kháng nguyên có 4 týp huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4.
Khi nhiễm bất kỳ một trong bốn týp huyết thanh vi-rút này sẽ tạo đƣợc miễn dịch suốt đời với týp huyết thanh đó [43], [48]. 4 Về mặt cấu trúc, vi-rút này có đƣờng kính 40-50nm, mang một chuỗi đơn ARN. Virion của chúng bao gồm một nucleocapsid có dạng hình lập phƣơng đƣợc bao quanh bởi một lớp có cấu tạo là lipoprotein. Gen của vi-rút Dengue có chiều dài khoảng 11.000 cặp ba-zơ và 3 protein cấu trúc gồm 1 protein mã hóa cho nucleocapside hay protein lõi (C), 1 protein liên kết màng (M), 1 protein vỏ (E) và 7 protein không cấu trúc (NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và NS5).
Trong đó, NS1 đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán nhiễm vi-rút Dengue, giúp phát hiện để chẩn đoán sớm nhiễm vi-rút Dengue nhờ xét nghiệm [1], [43], [48].4 Trung gian truyền bệnh Ở nƣớc ta có 2 loại muỗi Aedes gây bệnh chủ yếu là Aedes aegypti và Aedes albopitus. Muỗi Aedes aegypti hút máu ban ngày và thƣờng hút máu nhiều vào sáng sớm và chiều tối. Muỗi Aedes aegypti có mình nhỏ, đen có khoang trắng, thƣờng đƣợc gọi là muỗi vằn, đậu ở nơi tối trong nhà, thƣờng ở thành thị. Muỗi Aedes albopictus thích sống ở lùm cây, ngọn cỏ, phần lớn sống ở nông thôn [2], [34], [49].
Dịch bệnh SXH-D xuất hiện ở các nơi đông dân cƣ sau đó lan dần đến các vùng nông thôn. Ngƣời ta ƣớc tính cứ mỗi một trƣờng hợp mắc bệnh SXH-D có vào sốc vào bệnh viện thì có khoảng 200-500 ngƣời bị nhiễm vi-rút Dengue có triệu chứng lâm sàng hay không triệu chứng lâm sàng [49].1 Muỗi Aedes aegypti (Nguồn U.Department of Health and Human, Centers for Disease Control and Prevention) 5 1.5 Lịch sử bệnh sốt xuất huyết-Dengue trên thế giới và trong nƣớc 1.1 Lịch sử bệnh sốt xuất huyết-Dengue trên thế giới Những trƣờng hợp nhiễm Dengue đầu tiên đƣợc ghi nhận vào năm 1779 ở Batavia (nay là Jakarta) và năm 1780 ở Philadenphia. Sau đó, những trận dịch đã đƣợc báo cáo ở Caltutta (1824), Tây Ấn (1827), Mỹ (1922), Thổ Nhĩ Kỳ (1927 đến 1928), Nhật Bản (1942 đến 1945), chứng tỏ vi-rút Dengue gây bệnh đã phân bố rộng rãi trên thế giới từ 200 năm trƣớc [45]. Ở Đông Nam Á, bệnh SXH-D đƣợc ghi nhận đầu tiên ở Philippin năm 1953.
Trong vòng 30 năm, bệnh SXH-D đƣợc ghi nhận ở Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Myanma, Singapore, Sri Lanka và Việt Nam. Vào năm 1987 bệnh SXH-D bùng nổ ở Việt Nam (354.517 trƣờng hợp mắc bệnh) và Thái Lan (174.285 trƣờng hợp mắc bệnh). Hiện nay, trên toàn thế giới có khoảng 2,5 tỷ ngƣời (gần 40% dân số thế giới) đang sống trong vùng dịch tễ của bệnh SXH-D. Mỗi năm có 50-100 triệu trƣờng hợp mắc bệnh SXH-D, trong đó 500.000 trƣờng hợp mắc bệnh SXH-D nặng và có 2,5% trƣờng hợp tử vong.
Bệnh SXH-D đã có mặt trên 100 quốc gia thuộc châu Phi, châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng. Trong đó châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng là khu vực bị ảnh hƣởng nghiêm trọng nhất [48], [52], [53].2 Lịch sử bệnh sốt xuất huyết-Dengue tại Việt Nam Năm 1958, lần đầu tiên Chu Văn Tƣờng và cộng sự căn cứ trên một số bệnh nhi ở bệnh viện Bạch Mai thông báo về một dịch nhỏ SXH-D ở Hà Nội. Năm 1960, 2 vụ dịch SXH-D xảy ra ở Cái Bè (Tiền Giang), An Giang. Năm 1963 vụ dịch SXH-D đầu tiên đƣợc xác định mầm bệnh ở Việt Nam đã nổ ra ở đồng bằng sông Cửu Long [13].
Năm 1963 đến 1988, cả nƣớc có 1.734 trƣờng hợp mắc bệnh và 10.415 trƣờng hợp chết do bệnh SXH-D, đây là số bệnh nhân lớn nhất so với các nƣớc Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng vào cùng thời điểm [28]. Trong vòng 10 năm từ 1991 đến 2000 số bệnh nhân SXH-D tại Việt Nam dao động từ hơn 40.000 ngƣời mỗi năm với 2 trận dịch cao điểm vào năm 1997 và 6 1998, tỉ lệ tử vong thay đổi 0,4% đến 0,3% [33]. Năm 2000 đến nay, bệnh SXH-D ngày càng lan rộng và diễn biến phức tap. Tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên cũng tăng cao, nhiều khu vực trƣớc đây rất hiếm gặp bệnh nhân mắc bệnh SXH-D thì nay lại xuất hiện và tăng khá cao.
Tại miền Bắc có nhiều bệnh nhân mắc bệnh SXH-D đƣợc chẩn đoán MAC-ELISA dƣơng tính với vi-rút Dengue [5]. Theo báo cáo mới nhất về tình hình SXH-D năm 2013, Bộ Y tế ghi nhận có 66.138 trƣờng hợp mắc bệnh và 42 trƣờng hợp tử vong.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết-Dengue 1.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết-Dengue Bệnh SXH-D có biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh thƣờng khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục [7].1 Giai đoạn sốt - Sốt cao đột ngột, liên tục. - Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn.
- Da xung huyết. - Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt. - Nghiệm pháp dây thắt dƣơng tính. - Chấm xuất huyết ở dƣới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam.2 Giai đoạn nguy hiểm Thƣờng vào ngày thứ 3-7 của bệnh, ngƣời bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt, có thể có các biểu hiện sau: - Biểu hiện thoát huyết tƣơng do tăng tính thấm thành mạch (thƣờng kéo dài 24 giờ-48 giờ).
+ Tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, nề mi mắt, gan to, có thể đau. + Nếu thoát huyết tƣơng nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt, kẹp hoặc không đo đƣợc huyết áp, tiểu ít. 7 - Xuất huyết + Xuất huyết dƣới da: nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thƣờng ở mặt trƣớc hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sƣờn hoặc mảng bầm tím. + Xuất huyết ở niêm mạc: chảy máu mũi, lợi, tiểu ra máu, kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn.
+ Xuất huyết nội tạng nhƣ tiêu hóa, phổi, não là biểu hiện nặng.3 Giai đoạn hồi phục Sau 24 giờ-48 giờ của giai đoạn nguy hiểm, có hiện tƣợng tái hấp thu dần dịch từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch. Giai đoạn này kéo dài 48 giờ-72 giờ.