Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về đa dạng hóa kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và trong ngành Công an nói riêng. Chương 2: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại Công ty TNHH Một thành viên 19-5, Bộ Công an. Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh đa dạng hóa kinh doanh của Công ty TNHH Một thành viên 19-5, Bộ Công an. CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐA DẠNG HÓA KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NÓI CHUNG VÀ TRONG NGÀNH CÔNG AN NÓI RIÊNG 1.
Đặc điểm của doanh nghiệp trong ngành Công an và vai trò, sự cần thiết của đa dạng hóa đối với hoạt động kinh doanh 1. Đặc điểm của các doanh nghiệp trong ngành Công an Doanh nghiệp công an là một ví dụ điển hình của doanh nghiệp nhà nước do nhà nước làm chủ. Vì vậy, nó có đầy đủ những đặc điểm của một doanh nghiệp nhà nước. Như chúng ta đã biết doanh nghiệp nhà nước có thể bao gồm những loại hình sau: doanh nghiệp nhà nước hoặc tổng công ty nhà nước, công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ, công ty TNHH 2 thành viên, công ty cổ phần nhà nước.
Đối với các doanh nghiệp ngành Công an, bên cạnh đặc điểm là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, nó còn là một ngành đặc thù vì sản phẩm từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ được phục vụ cho lực lượng chiến sỹ công an, đồng thời pháp luật cũng nghiêm cấm cá nhân, tổ chức sản xuất những hàng hóa, 5 trang phục nhái hay theo kiểu mẫu của lực lượng vũ trang. Chính vì vậy, ngành quân trang của lực lượng công an cũng mang tính độc quyền cho doanh nghiệp. Đặc điểm đầu tiên được đề cập đến đối với một doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp trong ngành Công an nói riêng là hình thức sở hữu – vốn nhà nước. Chính vì hình thức sở hữu này đã gây ra nhiều hạn chế trong hoạt động quản lý và sản xuất của doanh nghiệp.
Người Việt Nam hay có câu “cha chung không ai khóc” để ám chỉ thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp này. Vì là tài sản chung nên mọi người - những nhân viên từ đội ngũ lãnh đạo đến công nhân không có ý thức tiết kiệm, không có ý thức sử dụng hiệu quả vì không phải chịu trách nhiệm cho đầu ra. Nếu đầu ra yếu kém thì lãnh đạo có thể dễ dàng xin điều chỉnh kế hoạch. Ngoài ra, lãnh đạo hay chủ tịch HĐQT được nhà nước chỉ định giữ vai trò đại diện cho phần vốn góp nhà nước tại doanh nghiệp.
Những người này cũng chỉ là người làm công ăn lương nên họ không cần thiết phải đóng góp hết sức mình, hay theo dõi sát sao tình hình kinh doanh vì đây không phải doanh nghiệp dân doanh. Ngoài ra, các vị lãnh đạo này được bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, biệt phái… trong một khoảng thời gian nhất định như 3-5 năm nên họ đôi khi không có sự gắn bó lâu dài, không có trách nhiệm với công việc, và nhiều khi chưa đủ kinh nghiệm trong kinh doanh. Thêm vào đó, khi có sự thay đổi, khi cần thông qua kế hoạch kinh doanh, các doanh nghiệp nhà nước đều phải xin ý kiến cấp trên. Đôi khi phải thông qua một hệ thống các ban ngành phức tạp với khá nhiều quan điểm khác nhau khó đạt được sự đồng thuận, trong đó có những bên có quyền quyết định lớn nhưng lại không chịu trách nhiệm về hiệu quả.
Đối với doanh nghiệp ngành Công an, thông thường các doanh nghiệp này sẽ chịu quản lý của một 6 Cục, hoặc một Tổng cục nào đó. Các quyết định của doanh nghiệp phải trình xin ý kiến lãnh đạo Tổng cục, và sau đó là Bộ Công an. Ví dụ, thay đổi mẫu mã, kiểu dáng của quân trang; công ty 19-5 phải xin ý kiến của Cục Trang cấp, Tổng cục Hầu cần - Kỹ thuật; lãnh đạo Tổng cục, sự tham gia góp ý của các bên liên quan là các Tổng cục khác trong lực lượng Công an, và cuối cùng là lãnh đạo Bộ. Vì vậy, để có sự thay đổi hay chỉnh sửa cần rất nhiều thời gian từ khâu xin ý kiến đến hoàn thiện chỉnh sửa để đưa vào sản xuất kinh doanh.
Đặc điểm thứ hai là yếu tố con người – nhân sự trong doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhà nước đôi khi ban lãnh đạo không có quyền bổ nhiệm hay tuyển chọn nhân sự mà do cấp trên phân công hay bổ nhiệm xuống doanh nghiệp. Vì vậy, trong nội bộ công ty có thể không đạt được sự đồng thuận với nhau, xuất hiện tư tưởng làm việc nhóm, hoặc có thể là con ông cháu cha được gửi gắm vào các vị trí trong doanh nghiệp và xuất hiện tình trạng “trên bảo dưới không nghe”. Đa dạng hóa, vai trò và sự cần thiết của đa dạng hóa đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong ngành Công an 1. Khái niệm đa dạng hóa kinh doanh Đa dạng hóa có thể được định nghĩa là sự mở rộng phạm vi các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngoài ngành kinh doanh hiện tại (Grant & Jordan, 2015, 234).
Ranh giới giữa các ngành – cũng được gọi là các ngành công nghiệp (Jacquemin & Berry, 1979), lĩnh vực (Denis & Sarin, 1997), ngành nghề kinh doanh (Montgomery, 1982) – thường được suy ra từ các hệ thống phân loại các hoạt động bởi các cơ quan thống kê. Một doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp đa dạng hóa nếu doanh nghiệp đó sản xuất nhiều sản phẩm cấp 4 số theo bảng phân ngành chuẩn quốc tế ISIC (CIEM, 2014). Trong nghiên cứu tiên phong của ông về đa dạng hóa, Ansoff (1957) đã 7 định nghĩa đa dạng hóa là “chiến lược để khám phá thị trường mới với các sản phẩm mới”. Đa dạng hóa là một phần của bốn chiến lược tiếp thị chính xác định bởi Ma trận các sản phẩm.1: Ma trận các sản phẩm - thị trƣờng của Ansoff Thị trường Sản phẩm hiện tại Sản phẩm mới Hiện tại Thâm nhập thị trường Phát triển sản phẩm Mới Phát triển thị trường Đa dạng hóa Nguồn: Ma trận Ansoff Một công ty được gọi là đa dạng hóa khi hoạt động trong hơn một lĩnh vực kinh doanh hay một ngành công nghiệp (Barney & cộng sự, 2011; M.
Mặt khác, đa dạng hóa có nghĩa là mở rộng phạm vi các hoạt động kinh doanh ngoài hoạt động kinh doanh hiện tại. Một số học giả còn định nghĩa đa dạng hóa là khi một công ty tham gia vào một khu vực (sector) hay một ngành công nghiệp (industry) mới (Jacquemin & Berry, 1979); một phân khúc (segment) hay một dòng kinh doanh mới (C. Ngoài ra, theo Ansoff (1957), đa dạng hóa doanh nghiệp xếp thành hai nhóm: đa dạng hóa sản phẩm (product diversification) và đa dạng hóa địa lý (geographic diversification). Đa dạng hóa sản phẩm là khi doanh nghiệp sản xuất hơn một loại sản phẩm, còn đa dạng hóa địa lý là khi doanh nghiệp hoạt động cả ở thị trường nước ngoài (M.
Ireland and Hoskinsson, 2011). Theo Chandler (1997), đa dạng hóa là khi các doanh nghiệp có cơ hội thâm nhập vào một thị trường và công nghệ mới, đồng thời với cơ hội phát triển trong lĩnh vực kinh doanh cơ bản của công ty. Điều này có nghĩa là các công ty đa dạng hóa sang các lĩnh vực kinh doanh khác nếu sau khi củng cố vị trí của họ trong ngành công nghiệp hoặc thị trường cơ sở, mà vẫn sử dụng 8 đúng mức các nguồn tài nguyên để tham gia vào các lĩnh vực khác với cơ hội thấp (Chandler, 1977). Jacquemin và Berry (1979) cho rằng, sự đa dạng hóa sản phẩm đề cập đến mức độ quan hệ (relatedness) các phân khúc sản phẩm khác nhau.
Dưới góc độ này, đa dạng hóa phản ánh mức độ quan hệ giữa các lĩnh vực mà công ty tham gia hoạt động. Theo Speckbacher và cộng sự (2014), mức độ quan hệ giữa các lĩnh vực kinh doanh hiện hữu của một công ty và các lĩnh vực mới là nhân tố quyết định sự lựa chọn giữa phát triển nội bộ (đa dạng hóa liên quan) và xâm nhập một lĩnh vực mới (đa dạng hóa không liên quan). Ý nghĩa của mức độ quan hệ trong đa dạng hóa đã được các nhà nghiên cứu thực nghiệm xác định bởi mức độ tương đồng giữa các lĩnh vực (ngành công nghiệp) về mặt công nghệ và thị trường (Bryce & Winter, 2009). Những tương đồng này nhấn mạnh sự liên quan ở cấp độ hoạt động trong sản xuất, marketing và phân phối – những hoạt động đặc trưng nơi mà chi phí từ việc chia sẻ nguồn lực là nhỏ và doanh nghiệp có thể đạt được nó với chi phí quản lý thấp (Robins & Wiersema, 2003).
Trên đây là ý kiến, khái niệm đa dạng hóa theo các khía cạnh khác nhau của một số học giả trên thế giới, còn đối với tác giả trong khuôn khổ đề tài luận văn này sẽ tiếp cận đa dạng hóa kinh doanh thông qua các hình thức đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa khu vực thị trường, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, đa dạng hóa kênh phân phối, phương thức thanh toán và đối tượng khách hàng. Như vậy, đề tài này đi vào bao quát toàn bộ các hình thức của đa dạng hóa kinh doanh. Vai trò của đa dạng hóa kinh doanh Vai trò của việc đa dạng hóa kinh doanh là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngành 9 công an nói riêng, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập phát triển kinh tế sâu rộng như hiện nay. Thứ nhất, việc thực hiện đa dạng hóa giúp cho doanh nghiệp phân tán rủi ro khi thực hiện đầu tư vào nhiều lĩnh vực, phân tán nguồn vốn và lợi nhuận.
Từ đó, doanh nghiệp sẽ tránh được tình trạng quá phụ thuộc vào một lĩnh vực cụ thể, tạo thế chủ động cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ hai, thực hiện đầu tư vào nhiều lĩnh vực, sản phẩm, ngành nghề, thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp khai thác được lợi thế kinh tế theo quy mô; đồng thời khó khăn của lĩnh vực này lại có thể là thuận lợi cho lĩnh vực khác, do đó việc đầu tư kinh doanh vào nhiều lĩnh vực sẽ giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong hoạt động kinh doanh, có thể tạo lợi thế cạnh tranh. Thứ ba, đa dạng hóa giúp doanh nghiệp có thể tận dụng, không để lãng phí bất kỳ nguồn lực dư thừa sẵn có nào để phát triển, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thứ tư, làm tăng quy mô của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm sức mạnh của đối thủ.