Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý của UBND thành phố trực thuộc tỉnh đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ. Chương 2: Thực trạng quản lý của UBND thành phố Cao Bằng đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ giai đoạn 2015-2019. Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý của UBND thành phố Cao Bằng đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn thành phố đến năm 2025. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC CHỢ 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm và phân loại chợ 1. Khái niệm chợ Có nhiều cách hiểu khác nhau về chợ, nhưng có thể khẳng định rằng chợ là một loại hình thương nghiệp truyền thống. Theo cách hiểu thông thường thì chợ là nơi gặp nhau giữa người mua và người bán để trao đổi, mua bán sản phẩm hàng hoá và dịch vụ (Hoàng Phê, 2019).
Theo văn bản hợp nhất số 11/VBHN-BCT năm 2014 của Bộ Công Thương về phát triển và quản lý chợ thì khái niệm về chợ được điều chỉnh trong Nghị định này là “Chợ là loại mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư”. Khái niệm này đã đề cập đến tính tổ chức của chợ và yêu cầu địa điểm chợ phải được quy hoạch, mục tiêu của chợ là để đáp ứng nhu cầu hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Một cách khác, chợ có thể được hiểu là: một loại hình thương nghiệp mang tính truyền thống, một bộ phận cấu thành của thị trường xã hội, là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ giữa những người sản xuất, người tiêu dùng và người buôn bán, với nhịp độ tương đối thường xuyên, có tính tập trung từ phạm vi làng xã đến vùng, miền rộng lớn và được tổ chức, quản lý theo quy định của Nhà nước. Chợ theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam được hiểu là một môi trường kiến trúc công cộng của một khu vực dân cư được chính quyền quy định, cho phép hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ thương nghiệp.
7 Như vậy, dù ở góc độ nào thì khái niệm về chợ cũng bao gồm các nội dung chủ yếu là: Không gian họp chợ, thời gian họp chợ, chủ thể tham gia trao đổi mua bán trong chợ, đối tượng hàng hoá trao đổi mua bán trong chợ và các hoạt động trao đổi mua bán trong chợ. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chợ được hiểu theo văn bản hợp nhất số 11/VBHN-BCT năm 2014 theo đó, “Chợ là loại mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư”. Phân loại chợ Chợ được phân chia thành nhiều loại chợ khác nhau tùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau (Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-BCT năm 2014). Căn cứ vào cơ sở hạ tầng + Chợ kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm.
+ Chợ bán kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng từ 5 đến 10 năm. + Chợ tạm: là chợ nằm trong quy hoạch nhưng chưa được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố. Căn cứ vào mục đích kinh doanh của chợ + Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hóa lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác. + Chợ chuyên doanh: là chợ kinh doanh chuyên biệt một ngành hàng hoặc một số ngành hàng có đặc thù và tính chất riêng.
+ Chợ tổng hợp: là chợ kinh doanh nhiều ngành hàng. + Chợ dân sinh: là chợ hạng 3 (do xã, phường quản lý) kinh doanh những mặt hàng thông dụng và thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của người dân. Căn cứ vào địa điểm của chợ 8 + Chợ nông thôn: là chợ xã của các huyện và ở khu vực ngoại thành, ngoại thị. + Chợ miền núi: là chợ xã thuộc các huyện miền núi.
+ Chợ cửa khẩu: là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền hoặc trên biển gắn các cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nhưng không thuộc khu kinh tế cửa khẩu. + Chợ trong khu kinh tế cửa khẩu: là chợ lập ra trong khu kinh tế cửa khẩu theo các điều kiện, trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế. + Chợ biên giới: là chợ nằm trong khu vực biên giới trên đất liền (gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền) hoặc khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo). Căn cứ vào quy mô của chợ + Chợ loại 1: Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch.
Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức họp thường xuyên. Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác. + Chợ loại 2: Là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch. Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường xuyên.
Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường 9 + Chợ loại 3: Là các chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận. Đặc điểm Theo Bộ Công Thương (2014), chợ có các đặc điểm cụ thể như sau: - Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau. - Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc do quá trình nhận thức tự giác của con người. Vì vậy trên thực tế có nhiều chợ đã được hình thành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của các cấp chính quyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật.
Nhưng cũng có rất nhiều chợ được hình thành một cách tự phát do nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá của dân cư, chưa được quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ. - Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường được diễn ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian (ngày, giờ, phiên) nhất định. Chu kỳ họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ và tập quán của từng vùng, từng địa phương quy định. Vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế xã hội 1.
Đối với đời sống của dân cư Chợ không chỉ là nơi gặp nhau giữa người mua và người bán để trao đổi sản phẩm, hàng hóa, ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, bên cạnh các giá trị kinh tế, chợ còn có các giá trị tinh thần và xã hội to lớn. Chợ là nơi giao lưu gặp gỡ của mọi người, nơi tổ chức các lễ hội truyền thống, vui chơi, giải trí. Chợ có ý nghĩa rất to lớn đối với đời sống kinh tế, xã hội của dân cư. Thông qua chợ, nhiều nhu cầu của đời sống con người được thỏa mãn, kể cả nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, sinh hoạt vật chất hay tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng cuộc 10 sống của dân cư.
Cũng thông qua chợ một số tầng lớp dân cư có thêm thu nhập và có thêm việc làm. Tóm lại, chợ có vai trò to lớn đối với đời sống dân cư, là nơi phân phối hàng hóa đến với mọi tầng lớp dân cư đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi. Qua chợ mọi người đều có thể thoả mãn được nhu cầu của mình, đó có thể là nhu cầu sản xuất, nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần. Đối với phát triển kinh tế Thứ nhất, chợ đóng vai trò quan trọng trong khâu lưu thông, là cầu nối giữa sản xuất với sản xuất, giữa sản xuất với tiêu dùng.
Thứ hai, chợ là một trong những kênh quan trọng của quá trình lưu thông hàng hoá, do đó đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội và thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Thứ ba, chợ là nơi góp phần thoả mãn các nhu cầu tiêu dùng của người lao động, do vậy chợ có vai trò quan trọng đối với tái sản xuất sức lao động xã hội. Thứ tư, chợ mang lại nguồn thu trực tiếp cho ngân sách, thông qua việc khai thác quản lý chợ để thu các khoản như thu thuế, dịch vụ và các loại phí. Thứ năm, chợ là nơi thu thập và xử lý các thông tin mang tính thời sự về kinh tế - xã hội, cung cấp các tín hiệu thị trường quan trọng như giá cả, tình hình cung, cầu.
Đây là những nguồn thông tin quan trọng giúp cho các nhà quản lý và sản xuất hàng hoá trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với đời sống văn hóa - chính trị - xã hội. Thứ nhất, chợ mang tính truyền thống, tính văn hóa cao: Mặc dù không phải là nơi quyết định bộ mặt của nền kinh tế - xã hội nhưng chợ lại là nơi phản ánh trình độ kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của dân cư địa phương.