LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Cao Bằng là một vùng đất có lịch sử lâu đời, giữ vị trí trọng yếu nơi biên cương của Tổ quốc. Là một tỉnh miền núi, điểm xuất phát thấp, khó khăn trong phát triển kinh tế, tỉnh đã chủ trương khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển KT - XH, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân. Đặc biệt trong giai đoạn từ 2011 - 2019, tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: Kinh tế phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) trung bình đạt trên 7%/năm. Nhiều dự án lớn đã và đang hình thành, đi vào vận hành.
Huy động các nguồn lực để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; phát triển nông - lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao và phát triển kinh tế biên mậu…Cơ sở hạ tầng KT - XH được đầu tư, mở rộng, phát triển, nhất là các khu kinh tế cửa khẩu, các điểm du lịch. Tình hình chính trị luôn ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững và tăng cường; diện mạo đô thị, nông thôn, miền núi có nhiều đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Trong bối cảnh hiện nay, việc phát triển kinh doanh dịch vụ tại Trung tâm Hội nghị cấp tỉnh là rất cần thiết bởi các lý do cụ thể như sau: Trung tâm Hội nghị cấp tỉnh là một đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần kinh phí trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh có chức năng cung cấp các dịch vụ phục vụ tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo và các hoạt động có liên quan khác do Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh chủ trì. Do đó, nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm Hội nghị là hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.
Ngoài ra, Trung tâm được tận dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật, lao động hiện có để tổ chức các hoạt động kinh doanh, dịch vụ có thu bảo đảm có hiệu quả, đúng pháp luật. Điều này giúp cho hoạt động của TTHN giảm bớt sự phụ 2 thuộc vào ngân sách của nhà nước nhưng không ảnh hưởng đến việc phục vụ nhiệm vụ chính trị được giao. Theo kết quả kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV cho thấy, tập trung thực hiện các giải pháp chống thất thu, tiết giảm chi ngân sách nhà nước. Theo đó, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương (trừ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Y tế; kinh phí thực hiện năm Chủ tịch ASEAN, năm Chủ tịch AIPA và các hoạt động ngoại giao quốc gia khác của Bộ Ngoại giao) cần cắt giảm tối thiểu 70% kinh phí hội nghị, đi công tác trong và ngoài nước còn lại của năm 2020.
Đồng thời, gia tăng tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên còn lại của năm 2020. Việc cắt giảm chi phí hội nghị cũng như tiết kiệm chi thường xuyên là xu hướng hoạt động trong những năm tiếp theo tại các bộ, cơ quan trung ương và địa phương. Điều này khiến cho nguồn thu từ NSNN đối với các Trung tâm Hội nghị tại các Tỉnh bị cắt giảm. Việc phát triển kinh doanh dịch vụ (ngoài nhiệm vụ chính) là rất cần thiết để giảm bớt áp lực từ phía NSNN đồng thời giúp cho TTHN gia tăng nguồn thu cho Trung tâm, từ đó gia tăng nguồn thu cho người lao động tại Trung tâm.
Không những vậy, theo xu hướng hiện nay của các đơn vị sự nghiệp có thu dần chuyển sang cơ chế tự chủ một phần và tự chủ hoàn toàn hoặc có thể chuyển đổi sang cổ phần hóa. Do đó, việc mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ bên cạnh hoàn thành nhiệm vụ được giao là một xu hướng tất yếu để đón đầu xu thế trên. Việc phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ của TTHN tỉnh sẽ giúp cho Trung tâm chủ động hơn trong quá trình chuyển đổi này. Đồng hành với sự đổi thay đó,các hoạt động phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị cũng được thực hiện.
Năm 2015, Trung tâm Hội nghị tỉnh Cao Bằng đã được thành lập. Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu, tự đảm bảo một phần kinh phí trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh Cao Bằng. Trung tâm có 3 chức năng cung cấp các dịch vụ phục vụ tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo và các hoạt động có liên quan khác do Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh chủ trì. Thực hiện quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ các cuộc họp, hội nghị, buổi lễ của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và của các sở, ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh và các hội nghị, hội thảo khác (như: các cuộc hội thảo khu vực do TW tổ chức,.
Ngoài nhiệm vụ chính trị được giao, Trung tâm được tận dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật, lao động hiện có để tổ chức các hoạt động kinh doanh, dịch vụ có thu bảo đảm có hiệu quả, đúng pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến việc phục vụ nhiệm vụ chính trị được giao. Điều này giúp cho hoạt động của TTHN giảm bớt sự phụ thuộc vào ngân sách của nhà nước. Trong nhiều năm qua, kinh phí NSNN cung cấp cho các hoạt động của TTHN ngày càng bị hạn chế do chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ. Do đó, việc phát triển hoạt động kinh doanh trên cơ sở tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động hiện có là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, giảm bớt áp lực từ phía ngân sách nhà nước đồng thời gia tăng nguồn thu nhập cho người lao động.
Không những vậy, theo xu hướng hiện nay của các đơn vị sự nghiệp có thu dần chuyển sang cơ chế tự chủ một phần và tự chủ hoàn toàn hoặc có thể chuyển đổi sang cổ phần hóa. Do đó, việc mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ bên cạnh hoàn thành nhiệm vụ được giao là một xu hướng tất yếu. Ngoài ra, trong xu hướng phát triển của tỉnh Cao Bằng trong những năm tới các cơ quan trong Khu Trung tâm hành chính của tỉnh được hoàn thiện và tọa lạc trên khu Đô thị mới Đề Thám, điều đó kéo theo các doanh nghiệp tư nhân đầu tư kinh doanh thêm các dịch vụ Tổ chức Hội nghị tại tỉnh, đòi hỏi sự cạnh tranh giữa các đơn vị kinh doanh độc lập. Đây là điều kiện 4 thuận lợi cần được TTHN tỉnh Cao Bằng tận dụng và phát triển hoạt động kinh doanh của mình.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển kinh doanh dịch vụ tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Cao Bằng” là rất cần thiết trong tình hình hiện nay. Do vậy, tôi đã quyết định chọn vấn đề trên làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình. Tổng quan nghiên cứu Đỗ Thị Hồng Phú (2016) với đề tài luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tiệc hội nghị tại Trung tâm hội nghị tiệc cưới Riverside Palace” của trường Đại học học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh.
Đề tài nghiên cứu này đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hội nghị của Trung tâm hội nghị tiệc cưới Riverside Palace. Mục tiêu nghiên cứu đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng, từ đó làm cơ sở để phân tích thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ hội hội nghị, sau đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hội nghị trong ngành dịch vụ hiện nay. Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập trực tiếp hoặc gián tiếp từ các báo cáo của Trung tâm hội nghị tiệc cưới Riverside Palace, từ các tạp chí du lịch, các tài liệu khác đã công bố tại những hệ thống khác nhau, hệ thống mạng internet cùng các nghiên cứu liên quan và thông qua việc phỏng vấn khách hàng bằng bảng câu hỏi khảo sát. Từ đó tác giả thống kê và phân tích số liệu thu thập được.
Kết quả nghiên cứu cho thấy Trung tâm hội nghị tiệc cưới Riverside Palace là một công ty kinh doanh rất có hiệu quả với tốc độ tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các công ty muốn giữ vững vị thế trên thị trường đòi hỏi các công ty phải xác định rõ vị thế cạnh tranh của mình để không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng sử dụng dịch vụ hội nghị cũng như khả năng thích ứng với thị 5 trường, trên cơ sở tận dụng những lợi thế của Riverside Palace từ những thế mạnh về cơ sở vật chất, vốn, phương tiện, uy tín thương hiệu và kinh nghiệm điều hành Riverside Palace cũng như sự nổ lực của toàn thể cán bộ nhân viên Công ty, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên có nghiệp vụ chuyên môn cao và nhiệt huyết với Công ty. Đào Trọng Khoa (2016) với luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng dịch vụ tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia” của Trường học viện Nông nghiệp. Luận văn được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ và chất lượng dịch vụ;(2) Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của Trung tâm Hội nghị Quốc gia giai đoạn 2013-2015; (3) Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của Trung tâm Hội nghị Quốc gia đến năm 2020.
Tác giả sử dụng linh hoạt giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp để đưa ra các phân tích nhận định.Trong đó số liệu thứ cấp thu thập từ nguồn báo cáo văn bản liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị, lao động,… của Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách điều tra trực tiếp, phỏng vấn các cán bộ, lãnh đạo quản lý, nhân viên Trung tâm Hội nghị Quốc gia và các khách hàng cá nhân và tổ chức đã sử dụng dịch vụ tại Trung tâmthông qua bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên bộ tiêu chí theo thang đo SERVPERF. Từ các số liệu thu thập được tác giả tổng hợp bằng phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh, sử dụng bộ tiêu chí theo thang đo SERVPERF để phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ của Trung tâm Hội nghị Quốc gia cũng như các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia.