Chương 1: Những vấn đề chung về phát triển kinh doanh hàng dân dụng tại doanh nghiệp Quốc phòng. Chương 2:Thực trạng phát triển kinh doanh hàng dân dụng tại Tổng công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh doanh hàng dân dụng tại Tổng công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân. - Phần kết luận 6 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH HÀNG DÂN DỤNG TẠI DOANH NGHIỆP QUỐC PHÒNG 1.1 Tầm quan trọng của kinh doanh hàng dân dụng tại doanh nghiệp Quốc phòng 1.1 Đặc điểm kinh doanh và mặt hàng kinh doanh của các doanh nghiệp Quốc phòng 1.1 Một số khái niệm về doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp. Sự khác nhau đó không phải do sự thiếu thống nhất giữa các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu mà bởi các quan điểm khác nhau khi đứng trên các lập trường khác nhau.
Một số quan điểm về doanh nghiệp có thể kể đến như: quan điểm về phát triển của D. Larua A Caillat; quan điểm hệ thống hay quan điểm về chức năng củaM.Fancois Perous “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.” Các khái niệm mặc dù có đôi chút khác nhau về hình thức song bản chất, ta có thể rút ra được 4 yếu tố không thể tách rời cấu thành nên doanh nghiệp, đó là: tổ chức, sản xuất, trao đổi và phân phối. Vậy, doanh nghiệp là gì? Theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu đồng thời kết hợp một cách hợp lý mục tiêu xã hội”. 7 Hiện nay ở Việt nam, có nhiều cách phân loại cũng như hình thức doanh nghiệp khác nhau.
Tuy nhiên, trong phạm trù luận văn, tác giả xin được không phân tích sâu vào vấn đề này mà chỉ xin giới thiệu qua một vài loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất: Doanh nghiệp nhà nước: “là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Theo tính chất hoạt động có thể phân ra thành: doanh nghiệp dân sự (làm kinh tế); doanh nghiệp quân đội, doanh nghiệp công an, doanh nghiệp phục vụ cho một số hoạt động xã hội của Đảng và Chính phủ; doanh nghiệp của các tổ chức xã hội. Doanh nghiệp tư nhân Hợp Tác Xã Công ty cổ phần Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty hợp danh Công ty liên doanh Doanh nghiệp Quốc phòng doanh nghiệp nhà nước do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý. Do vậy, doanh nghiệp Quốc phòng mang đầy đủ những đặc điểm chung của một doanh nghiệp nhà nước thông thường đồng thời có những đặc điểm riêng của một đơn vị quân đội.
Doanh nghiệp quân đội được chia ra thành 2 loại hình: Doanh nghiệp quốc phòng an ninh: “là doanh nghiệp nhà nước (bao gồm các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng và các doanh nghiệp đứng chân trên các địa bàn trọng yếu về an ninh quốc phòng kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc bảo đảm bí mật và an ninh quốc gia và kinh tế” như: Tổng công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân, Tổng công ty Kinh tế và Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET). 8 Doanh nghiệp thuần về kinh tế: đang được dần từng bước chuyển sang mô hình công ty cổ phần theo chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp của Chính phủ. Hiện nay, trong cả nước có khoảng 104 doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Bộ Quốc phòng trải dài trên nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như da dày, dệt may – công ty X20; viễn thông – Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel, ngân hàng – Ngân hàng thương mại cổ phần MB, xây dựng – Tổng công ty 319, 789… 1.2 Quy chế hoạt động và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp Quốc phòng, an ninh: Dưới đây là Quy chế hoạt động được áp dụng đối với doanh nghiệp Quốc phòng, An ninh được Chính phủ đã ban hành trong Nghị định số 93/2015/NĐ- CP ngày 15 tháng 10 năm 2015. Được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và thuế sử dụng đất đối với diện tích đất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao quản lý và sử dụng; Được hạch toán một số khoản chi phí đặc thù vào chi phí sản xuất kinh doanh (trường hợp không được ngân sách nhà nước hỗ trợ hoặc có hỗ trợ nhưng không đủ) bao gồm: Chi phí trả lương, đóng bảo hiểm xã hội cho người chuẩn bị nghỉ hưu; chi bảo đảm quân trang cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, hạ sỹ quan, công nhân công an; thanh toán các khoản chi ra quân, xuất ngũ, phục viên, thôi việc theo chế độ hiện hành; các khoản chi cho công tác quốc phòng, an ninh, công tác phục vụ quốc phòng, quan hệ quân dân; Được nhà nước cấp kinh phí cho việc duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa vận hành các dây chuyền sản xuất quốc phòng, an ninh trong trường hợp tạm ngừng sản xuất mà không có khả năng tự bù đắp chi phí; Được nhà nước hỗ trợ hai quỹ khen thưởng và phúc lợi bằng 02 tháng lương thực hiện, trong trường hợp không đủ nguồn để trích lập hai quỹ đó; 9 Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thực hiện các nhiệm vụ và hoạt động trên các địa bàn chiến lược quan trọng được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi và hỗ trợ khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Được nhà nước hỗ trợ kinh phí nhà trẻ, giáo dục tại địa bàn chưa có trường lớp theo hệ thống giáo dục công lập; kinh phí y tế đối với những nơi do điều kiện đặc biệt phải duy trì bệnh xá. Tất cả các doanh nghiệp quốc phòng an ninh hàng năm phải công bố trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Kế hoạch và Đầu tư những thông tin trước ngày 20/6 như: tên gọi, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật; báo cáo các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu (doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước, vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ) năm trước liền kề; thu nhập bình quân người lao động… Đối với các nội dung không thể công khai do bí mật quốc phòng, an ninh:doanh nghiệp quốc phòng, an ninh phải gửi các nội dung này cho cơ quan đại diện chủ sở hữu. Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm tổng hợp và gửi các thông tin này cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để theo dõi, có ý kiến (trước ngày 31 tháng 8 hằng năm) hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp cần thiết. Hằng năm, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao Kế hoạch sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cho doanh nghiệp.
Văn bản giao kế hoạch sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là căn cứ để doanh nghiệp được xem xét công nhận là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh. Khái niệm về kinh doanh Một cách đời thường nhất, ta có thể hiểu hành vi kinh doanh là những hành vi của các chủ thể nhằm mục đích sinh lời. Trong luật thực định của Việt Nam, kinh doanh được định nghĩa như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.” 10 Khái niệm phát triển kinh doanh “Phát triển kinh doanh là việc doanh nghiệpáp dụng các biện pháp nhằm tối đa hóa số lượng bán ra của sản phẩm nhằm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế”. Sự chuyên nghiệp trong phát triển kinh doanh có thể bao hàm tất cả mọi mặt từ việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ của người sử dụng lao động, cho đến sự sáng tạo trong chiến lược tiếp thị, doanh số bán hàng, đàm phán và tổ chức các chương trình khuyến mại.
Công việc phát triển kinh doanh chuyên nghiệp thường là để xác định cơ hội kinh doanh mới - cho dù đó có nghĩa là thị trường mới, quan hệ đối tác mới với các doanh nghiệp khác, những cách thức mới để tiếp cận thị trường đang hoạt động, hoặc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mới để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường hiện tại và sau đó đi ra ngoài và khai thác những cơ hội để mang lại nhiều doanh thu hơn. “Nền kinh tế hiện nay, đã cho ra đời hai ngành nghề mới không thể thiếu đối với một doanh nghiệp thương mại đó là: phát triển kinh doanh “Bussiness Development – Biz Dev” và bán hàng “Sale”. Tuy nhiên, khác với bán hàng, người phát triển kinh doanh hay “Biz Dev” thiên về chiến lược phát triển, cũng như về ý tưởng phát triển của doanh nghiệp. Biz Dev không phải là thuyết thục khách hàng mua mà là tư vấn các giải pháp cũng như các sản phẩm cho khách hàng.Đây là công việc đòi hỏi các khoản chi dài hạn.Trong dài hạn, Biz Dev sẽ giúp doanh nghiệp đem về doanh thu cao, mang tính ổn định, là người sẽ hướng đến những chiến lược lâu dài như phát triển các mối quan hệ nằm trong định hướng tương lai của công ty”.