MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sức khỏe tâm thần (Mental health) có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe tâm thần là trạng thái an lạc (well − being) mà ở đó mỗi cá nhân nhận ra được tiềm năng của chính mình, có thể ứng phó được với những căng thẳng bình thường của đời sống, làm việc một cách hiệu quả và có năng suất, đóng góp vào sự phát triển cộng đồng mà họ đang sống. Chăm sóc SKTT vai trò quan trọng trong việc phát triển tính tự lập, sự tự tin, tình yêu cuộc sống và các giá trị đạo đức căn bản của con người, giúp xây dựng và hình thành một nhân cách lành mạnh, sáng tạo và chủ động.
Học sinh Trung học Phổ Thông là một giai đoạn cực kỳ quan trọng trong đời sống của một người. Đây là thời kỳ chuyển tiếp giữa trẻ con và người lớn, khi các em càng ngày càng mở rộng hơn về đối tượng giao tiếp, quan tâm nhiều hơn các vấn đề trong xã hội. Các em sắp trở thành một công dân thực thụ, chuyển sang giai đoạn học nghề và làm nghề để phát triển bản thân đồng thời cống hiến cho sự phát triển của xã hội. Các nghiên cứu dịch tễ về SKTT ở thanh thiếu niên đã thống kê cho thấy có một tỷ lệ đáng kể cần được quan tâm theo dõi.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có khoảng 10 − 20% trẻ em và thanh thiếu niên trên thế giới được tiên lượng là có rối loạn hay vấn đề về tâm thần. Thực tế tại Việt Nam, vấn đề SKTT đặc biệt tâm lý thanh thiếu niên tuổi học đường chưa được chú trọng nhiều. Tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở Việt Nam từ 8% đến 29% đối với trẻ em và vị thành niên theo Báo cáo tóm tắt “Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam” của UNICEF. Còn theo thống kê của Bộ GD&ĐT, có khoảng 50% trẻ ở độ tuổi vị thành niên có vấn đề về SKTT; trầm cảm, lo âu, rối loạn tâm thần tăng 3 − 5 lần so với bình thường.
Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến Sức khỏe tâm thần tuổi học đường như: áp lực học tập nhất là vào mùa thi; các bậc cha mẹ đặt quá nhiều kỳ vọng ở con cái và điều này tạo ra áp lực rất lớn cho các em; sự thay đổi các mối quan hệ bạn bè; những thói quen sống không lành mạnh như không hoặc ít tập luyện thể dục; thức quá khuya, ngủ dậy muộn, 1 nghiện game, chơi điện tử quá nhiều, hút thuốc lá, uống rượu, … Những điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập cũng như sức khỏe của các em. CTXH trường học là những hoạt động về các dịch vụ của nhà thực hiện chính sách xã hội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo tại trường học. CTXH trường học thực hiện những dịch vụ chủ yếu thông qua người làm CTXH trường học là người được đào tạo chuyên môn về công tác xã hội để làm việc và tương tác với học sinh, cha mẹ, giáo viên, nhà quản lý, nhân viên khác trong trường học và ngoài cộng đồng nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề xảy ra trong trường học, xây dựng các mối quan hệ giao tiếp, thực hiện vai trò liên kết giữa gia đình và trường học, chuyển tuyến cho học sinh đến các cơ sở dịch vụ có liên quan trong cộng đồng, can thiệp lúc khủng hoảng, xây dựng các chương trình mang tính phòng ngừa trong trường học và ngoài cộng đồng. Việc vận dụng CTXH trường học là một yêu cầu thực tế trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề trên cũng là lý do tôi lựa chọn vấn đề “Công tác xã hội cá nhân với học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần” (Trường hợp tại trường Trung học phổ thông Einstein) làm đề tài khóa luận của mình. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu − Nghiên cứu các vấn đề lý luận về CTXH cho học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần − Tìm hiểu, nghiên cứu thực tiễn tại trường Trung học phổ thông Einstein. − Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần − Ứng dụng phương pháp CTXH cá nhân để can thiệp hỗ trợ cho học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần tại trường Trung học phổ thông Einstein 2.
Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu các vấn đề lý luận về CTXH với cho học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần cũng như những lý luận về CTXH cá nhân trong việc hỗ trợ học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần thông qua việc rà soát các văn bản pháp luật, các chính sách có liên quan và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. 2 Thư viện ĐH Thăng Long Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần tại trường Trung học phổ thông Einstein. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần: vai trò của nhân viên CTXH, sự nhận thức của các em học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần, cũng như sự quan tâm của gia đình và nhà trường. Trên cơ sở nền tảng các lý thuyết, kỹ năng và phương pháp thực hành CTXH, tác giả tiến hành áp dụng tiến trình CTXH cá nhân cho học sinh có vấn đề SKTT.
Đề xuất một số biện pháp trong việc hỗ trợ CTXH với học sinh có vấn đề SKTT. Tổng quan nghiên cứu 3. Các nghiên cứu ngoài nước SKTT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ở tuổi vị thành niên và thanh niên (lứa tuổi THPT) song tỉ lệ vị thành niên và thanh niên có vấn đề về SKTT lại tương đối cao trên thế giới. Merikangas và cộng sự (2014) đã tổng quan những nghiên cứu dịch tễ về các vấn đề SKTT của trẻ em cho thấy khoảng 1/4 thiếu niên và thanh niên trải qua một rối loạn tâm thần nào đó trong 1 năm qua và 1/3 có rối loạn tâm thần trong ; suốt cuộc đời.
Rối loạn lo âu là cao nhất, tiếp đến là rối loạn hành vi, rối loạn cảm xúc, và lạm dụng chất kích thích. Báo cáo quốc gia về sức khỏe tâm thần của thanh niên ở Úc (2000) chỉ ra 14% trẻ em và thanh thiếu niên được xác định là có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Điều đáng báo động là nhiều người trong số những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần gia tăng nguy cơ thực hiện hành vi tự tử mà không tìm kiếm sự giúp đỡ từ các nguồn hỗ trợ SKTT chuyên nghiệp (Sawyer et al, 2001). Tỉ lệ trẻ vị thành niên có vấn đề SKTT là tương đối cao, song phần lớn trẻ không nhận được hoặc tiếp cận hỗ trợ/ dịch vụ khi có vấn đề SKTT (Corrigan, Druss et al, 2014).
[3, trang 789] Theo Bộ Y tế Hoa Kỳ, cứ 5 trẻ em và thanh thiếu niên thì có 1 em gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần trong những năm đi học. Ví dụ như căng thẳng, lo âu, bắt nạt, các vấn đề gia đình, trầm cảm, khuyết tật học tập, lạm dụng rượu và chất kích thích. Các vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng, chẳng hạn như các hành vi tự gây thương tích và tự tử, đang gia tăng, đặc biệt là ở giới trẻ. Thật không may, nhiều trẻ em và thanh thiếu niên không nhận 3 được sự giúp đỡ cần thiết, sự chênh lệch về khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc vẫn còn tồn tại trong các cộng đồng thu nhập thấp, nhóm người trẻ thiểu số.
Trong số 3,8 triệu thanh thiếu niên ở độ tuổi 12–17 đã cho biết về giai đoạn trầm cảm nghiêm trọng trong năm qua, gần 60% không nhận được bất kỳ sự điều trị nào − theo một báo cáo năm 2019 của Cơ quan Quản lý Dịch vụ Sức khỏe Tâm thần và Lạm dụng chất. Trong số những trẻ vị thành niên được giúp đỡ, gần 2/3 là những sự hỗ trợ đến từ ở trường học. [10] Trong một cuộc khảo sát quốc gia vào năm 2007 về lĩnh vực SKTT, tác giả Jorm và Reacley (tại Úc) [3] đã tiến hành nghiên cứu về nhận thức về SKTT bằng cách đưa ra các trường hợp có RLTT để người dân nhận diện. Kết quả cho thấy: − Khả năng nhận diện các rối loạn và tìm kiếm sự trợ giúp: khoảng 75% các trường hợp liên quan đến trầm cảm được gọi đúng tên.
Khoảng 1/3 số này là tâm thần phân liệt và rối loạn stress sau sang chấn cũng được nhận diện chính xác. Kết quả trong nhóm cộng đồng nói chung, có 9% người trả lời sai tên của rối loạn ám ảnh xã hội, con số này ở giới trẻ là 3%. − Các loại thuốc chống trầm cảm với rối loạn trầm cảm là cách điều trị tốt nhất. Còn các chiến lược phòng ngừa trong cuộc sống như các hoạt động thể dục thể thao; tìm kiếm thông tin về các vấn đề của mình; đi ra ngoài; thực hiện các cách thức thư giãn cũng là những cách hỗ trợ tốt.
− Đối với giới trẻ, các thông tin thu được khá đa dạng: tìm kiếm sự hỗ trợ của bạn thân trước tiên; uống vitamin (với rối loạn như trầm cảm, trầm cảm kết hợp với lạm dụng chất, ám sợ xã hội), hoặc thuốc chống trầm cảm (với các rối loạn khác); các cách thức phòng ngừa được đánh giá cao là các hoạt động tăng cường thể chất, sự ủng hộ của nhóm, thư giãn, giảm uống rượu, thuốc lá và cần sa. − Các quan điểm về nguyên nhân và cách can thiệp được thể hiện như sau: + Ở các nghiên cứu trên cộng đồng, quan niệm về các tác nhân xã hội, như là những vấn đề gặp trong ngày, sự mất mát người thân, các sự kiện gây sang chấn và những chấn thương thời thơ ấu là các nguyên nhân khá phổ biến. Ngoài ra, yếu tố mất cân bằng sinh hóa cũng cần phải được xem xét thêm. 4 Thư viện ĐH Thăng Long + Đối với giới trẻ, họ cho rằng giữ mối quan hệ giao tiếp với bạn bè và gia đình, duy trì lịch sinh hoạt thư giãn điều độ được xem như là chiến lược tốt nhất để phòng ngừa RLTT.
[3] Trong nghiên cứu về tìm hiểu nhận thức của bố mẹ với vấn đề SKTT của trẻ, tác giả Dianne Shanley (2008) đã thu thập thông tin qua việc sử dụng bảng hỏi.