CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường, sự cần thiết phải quản lý môi trường 1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường Trước tiên chúng ta hiểu quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường ngoài. Quản lý môi trường là một dạng của quản lý. Đó là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường nên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành. Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của quản lý môi trường nhằm phối hợp mục tiêu và các động lực hoạt động của mội người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống môi trường.
Việc sử dụng tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống là việc sử dụng có hiệu quả nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài của hệ thống môi trường trong điều kiện tương tác với các hệ thống khác, chấp nhận các rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống. 5 Việc tuân thủ luật pháp và các thông lệ (Công ước quốc tế) hiện hành là việc tiến hành các hoạt động phát triển theo đúng những điều mà luật pháp trong nước và quốc tế không cấm, những công ước mà thế giới đã thoả thuận. Sự cần thiết phải quản lý môi trường. Xét về mặt tổ chức kỹ thuật của hoạt động quản lý, quản lý môi trường chính là sự kết hợp mọi sự lỗ lực chung của con người hoạt động trong hệ thống môi trường và việc sử dụng tốt các cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc phạm vi sở hữu của hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của toàn hệ thống và mục tiêu riêng của cá nhân hoặc nhóm người một cánh khôn khéo và có hiệu quả nhất.
Quản lý môi trường phải trả lời các câu hỏi “ Phải tiến hành các hoạt động phát triển nào, để làm gì?”, “Phải tiến hành hoạt động phát triển đố như thế nào, bằng cách nào?”, “Tác động tích cực và tiêu cực nào có thể xảy ra?”, “ Rủi ro nào có thể gánh chịu và cách sử lý ra sao?”. Quản lý môi trường được tiến hành chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động phát triển cao hơn, bền vững hơn so với hoạt động của từng cá nhân riêng rẽ hay của một nhóm người. Nói một cách khác, thực chất của quản lý môi trường là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống môi trường. Là hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, đảm bảo ch hệ thống môi trường tồn tại, hoạt động và phát triển lâu dài, cân bằng và ổn định vì lợi ích về vật chất và tinh thần của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau, vì lợi ích của cá nhân, cộng đồng địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế.2 Đối tượng, mục tiêu, nội dung và các nguyên tắc của quản lý nhà nước về môi trường.1 Đối tượng,mục tiêu của quản lý môi trường.
Quản lý môi trường, trước hết là quản lý một hệ thống bao gồm các phần tử (yếu tố) tự nhiên và nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên. Đó là một hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh hoạt động theo những qui luật khác nhau và có con người tham dự. Mục tiêu của quản lý môi trường. Mục tiêu chung, lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhằm góp phần tạo lập sự phát triển bền vững.
Đó là cách phát triển “Thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ mai sau”. Và được xem là một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời của cả bốn lĩnh vực: Kinh tế, xã hội nhân văn, môi trường và kỹ thuật với những mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực. Giữa bốn lĩnh vực này có mối quan hệ tương tác rất chặt chẽ và hành động trong lĩnh vực này có thể thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển. Chẳng hạn néu muốn phát triển kinh tế theo kiểu bền vững, thì không thể không chú ý đến những khó khăn nan giải về môi trường hoặc dựa vào sự huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên, và sự phát triển cũng không thể thành công, nêu snhư không có sự phát triển đồng thời tài nguên nhân văn, nó cũng đòi hỏi sự chuyển dịch cơ sở công nghiệp hiện tại, phát triển và quảng bá những kỹ thuật và công nghệ thân thiện với môi trường, với hành tinh nói chung.2 Nội dung của quản lý môi trường.
Quản lý môi trường được tiến hành ở cả cấp vĩ mô và vi mô. ở cấp vĩ mô, quản lý môi trường bao gồm các nội dung sau đây: + Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường. + Xây dựng,chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng – chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường. + Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường.
+ Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường. + Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở sản xuất, kinh doanh. + Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường. + Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường: giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
+ Đào tạo cán bộ về học và quản lý môi trường; giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức – pháp luật về bảo vệ môi trường. + Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. 8 + Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.3 Các nguyên tắc quản lý môi trường. Các nguyên tắc quản lý môi trường là các qui tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thể quản lý phải tuân thủ trong suốt quá trình quản lý môi trường.
- Yêu cầu của các nguyên tắc quản lý môi trường. + Thể hiện được yêu cầu của các qui luật khách quan. + Phù hợp với mục tiêu quản lý. + Phải phản ánh khách quan và đúng đắn tính chất và các mối quan hệ quản lý.
+ Phải đảm bảo tính hệ thống, tính thống nhất, nhất quán và được bảo đảm bằng pháp luật. - Các nguyên tắc quản lý môi trường. Các nguyên tắc quản lý môi trường phải phản ánh yêu cầu khách quan của các qui luật tự nhiên, kinh tế xã hội đang chi phối quá trình quản lý môi trường. Đối với nước ta, quản lý môi trường cần dựa và những nguyên tắc sau đây: + Bảo đảm tính hệ thống.
+ Bảo đảm tính tổng hợp. 9 + Bảo đảm tính tập trung dân chủ. + Kết hợp quản lý theo nghành và quản lý theo lãnh thổ. + kết hợp hài hoà các lợi ích.
+ Tiết kiệm và hiệu quả.3 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 1.1 Khái niệm Công cụ kinh tế là những chính sách nhằm thay đổi chi phí và lợi ích của những hành động của hoạt động kinh tế thường xuyên xảy ra tác động tới môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra huỷ hoại môi trường. Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để đề ra các quyết định nhằm đạt tới mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng sử hiệu quả chi phí cho bảo vệ môi trường. Công cụ kinh tế đơn giản là con đườngmà Chính phủ có thể thay đổi hành vi ứng xử của mọi người. Thông qua việc lựa chọn những phương thức kinh tế khác nhau hoặc giảm thiểu chi phí trên thị trường nhằmđạt mục tiêu môi trường.
Công cụ kinh tế là biên pháp cung cấp “Những tín hiệu thị trường để giúp cho những người ra quyết định ghi nhận hiệu quả môi trường trong việc lựa chọn của họ”. Từ các địng nghĩa trên, ta có thể rút ra hai điểm làm sáng tỏ thêm nội dung của công cụ kinh tế của phương tiện chính sách. 1) Công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả, chúng nâng giá của các hành động làm tổn hại đến môi trường hoặc hạ giá cả của các hành động bảo vệ môi trường xuống. 10 2) Công cụ kinh tế dành khả năng lựa chọn cho các công ty và cá nhânhành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ.
Như vậy, công cụ kinh tế tương phản thường xuyên với các qui định “Mệnh lệnh và kiểm soát – CAC”. Đó là hai mặt của phương tiện chính sách “Mệnh lệnh và kiểm soát – CAC” được tiến hành thông qua những cơ chế ra lệnh cho các hành động môi trường xử phạt nếu không tuân thủ các qui định của nhà nước. Ngược lại, các công cụ kinh tế duy trì một tập hợp tương đối rộng rãi các hành động môi trường có tính pháp lý, nhưng có xác định những hậu quả khác nhau đối với những sự lựa chọn khác nhau. Từ những trình bày trên ta thấy: + Công cụ kinh tế là một trong những phương tiện chính sách được sử dụng để đạt tới mục tiêu môi trường thành công.
+ Công cụ kinh tế không phải là phương tiện chính sách riêng biệt mà chúng được sử dụng thường xuyên cung với các phương tiện chính sách khác như đã qui định pháp lý về “Mệnh lệnh và kiểm soát – CAC”.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP). Nguyên tắc PPP có nguồn gốc từ sáng kiến của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OEDC) đề ra năm 1972 và 1974.