CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ CÁC VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 1. TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Đặc điểm và sự phân bố làng nghề trong cả nước Làng nghề đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời trong nông thôn Việt Nam và đóng vai trò rất quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nước ta, là nét văn hóa đặc thù trong đời sống của người dân nông thôn Việt Nam.
Sự phát triển của các làng nghề Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử. Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công mà còn là điểm văn hóa của khu vực, của vùng. Trong vài năm gần đây, làng nghề thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp phục vụ tiêu dung trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển. Quá trình công nghiệp hóa cung với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất tại các làng nghề đã làm tăng mức thu nhập bình quân của người dân nông thôn, các công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến.
Các làng nghề mới và các cụm làng nghề không ngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tang trưởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn. Đặc biệt từ giai đoạn đổi mới nền kinh tế đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, làng nghề nước ta cũng đang có tốc độ phát triển mạnh thông qua sự tăng trưởng về số lượng và chủng loại ngành nghề sản xuất mới. Một số làng nghề từng bị mai một trong thời kỳ bao cấp thì nay cũng đang dần được khôi phục và phát triển. Nhiều sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề có được vị thế trên thị trường, được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng.
Tuy nhiên, có một thực tế là đã và đang có sự thay đổi, pha tạp giữa làng nghề mang tính chất thủ công, truyền thống và làng nghề mà thực chất là sự phát triển công nghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn, tạo nên một bức tranh hỗn độn của làng nghề Việt Nam. Có rất nhiều ý kiến quan điểm khác nhau khi đề cập đến khái niệm làng nghề Phạm Ngọc Hải – Lớp CH2011B 5 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật và tiêu chí công nhận làng nghề, nhưng theo thông tư 116/2006/TT- BNN, ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT thì làng nghề được định nghĩa: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Về tiêu chí để được công nhận làng nghề như sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Về tiêu chí để được công nhận làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất 1 nghề truyền thống theo quy định tại thông tư số 116/2006/TT-BNN.
Đối với những làng chưa đạt tối thiểu 30% tổng số hộ và 2 năm sản xuất kinh doanh làng nghề ổn định nhưng có ít nhất 1 nghề truyền thống được công nhận theo quy định của thông tư 116/2006, TT - BNN thì cũng được công nhận làng nghề truyền thống. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề VN năm 2009, cả nước có 2.790 làng, nhiều làng nghề có bề dày lịch sử khoảng 300 năm, thu hút 30% lực lượng lao động nông thôn. Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, mật độ phân bố dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân bố và phát triển làng nghề giữa các vùng của nước ta là không đồng đều, thông thường tập trung vào những khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất sản xuất nông nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn. Trên cả nước, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là ở miền Trung (chiếm khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%) [1].
Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm Phạm Ngọc Hải – Lớp CH2011B 6 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật ngành chính, mỗi phân ngành chính có nhiều ngành nhỏ. Mỗi nhóm làng nghề có các đặc điểm khác nhau về hoạt động sản xuất sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới môi trường. Dệt nhuộm, Vật liệu xây Các nghề khác ươm tơ, thuộc dựng, khai 15% da thác đá 17% 5% Chế biến lương thực, Thủ công mỹ Tái chế phế thực phẩm, nghệ liệu chăn nuôi, giết 39% 4% mổ 20% Hình 1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất Nguồn: Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008 Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.
Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% - 80% đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm và góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động. Làng nghề thu hút khoảng 20 triệu lao động, trong đó 30% số lao động thường xuyên còn lại là lao động thời vụ. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên. Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời vụ [9].
Thế nhưng, sản xuất càng phát triển, môi trường ở các làng nghề càng xuống Phạm Ngọc Hải – Lớp CH2011B 7 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật cấp nghiêm trọng. Thách thức lớn nhất là làm thế nào vừa phát triển mạnh kinh tế làng nghề vừa không ô nhiễm môi trường, để phát triển làng nghề một cách bền vững 1. Tổng quan làng nghề của Hà Nội Theo số liệu thống kê, đến nay trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có 1.350 làng có nghề, trong đó thành phố đã công nhận 277 làng nghề, với 224 làng nghề truyền thống với 116 “Nghệ nhân Hà Nội” và hàng ngàn thợ giỏi [14]. Theo đánh giá của JICA, các làng nghề của Hà Nội hiện có tới 47 nghề trên tổng số 52 nghề của toàn quốc với hàng chục nhóm ngành nghề đang phát triển mạnh như: gốm sứ, dệt may, da giày, điêu khắc, khảm trai, sơn mài, mây tre đan, dát vàng bạc quỳ, đúc đồng, chế biến nông sản, cơ khí,.
Các làng nghề truyền thống được gìn giữ và phát triển qua nhiều thế hệ, tập trung ở các huyện Chương Mỹ (174 làng), Phú Xuyên (124 làng), ThườngTín (125 làng), Ứng Hòa (113 làng), Thanh Oai (101 làng), Ba Vì (91 làng). Làng nghề Hà Nội đã thu hút được 739.630 lao động với 172.000 hộ sản xuất, 2.063 công ty cổ phần, 4.562 công ty TNHH, 1.466 doanh nghiệp tư nhân, 164 hợp tác xã tham gia sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ [14]. Hiện có gần 100 làng nghề đạt doanh thu 10 - 20 tỷ đồng/năm, 70 làng nghề đạt 20 - 50 tỷ đồng/năm. Đặc biệt, một số làng có doanh thu cao: La Phù 800 tỷ đồng/năm, gốm- sứ Bát Tràng 350 tỷ đồng/năm, mộc Vạn Điểm 240 tỷ đồng/năm.
Năm 2011, giá trị sản xuất của làng nghề Hà Nội đạt khoảng10.000 tỷ đồng/năm chiếm 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của toàn thành phố (2010 là hơn 8. Thu nhập bình quân của 1 lao động sản xuất tại các làng nghề cao hơn từ 2 - 2,5 lần so với sản xuất nông nghiệp (thuần nông). Trong số 176 CCN làng nghề được quy hoạch, đã có 49 cụm (470 ha), xây dựng hạ tầng, cấp phép hoạt động cho 5.870 dự án, bình quân đạt 800 m2/dự án, trong đó có 2.000 dự án đã hoạt động. Theo Sở Công thương, quy hoạch các cụm làng nghề còn nhỏ lẻ (7,4ha/cụm), thậm chí có cụm diện tích 1 ha, lại dàn trải, chưa Phạm Ngọc Hải – Lớp CH2011B 8 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển.
Hiện trạng sản xuất của làng nghề Hà nội Hiện quy mô sản xuất của các làng nghề Hà Nội đa số nhỏ lẻ, phân tán, trình độ thủ công…Thống kê của Sở Công Thương, hiện 70% số thiết bị được sử dụng tại các làng nghề là máy móc, trang thiết bị đơn giản. Số máy móc hiện đại chỉ tập trung tại một số làng với ngành nghề như dệt, may, gốm sứ. Ở phần lớn các làng nghề, các hộ đều tận dụng diện tích đất ở để làm cơ sở sản xuất, với quy mô sản xuất nhỏ, tự phát; trình độ công nghệ tại các làng nghề đang ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng chủ yếu đang chuyển từ giai đoạn sản xuất thủ công sang sản xuất cơ giới; Hạ tầng làng nghề còn chưa đồng bộ, đặc biệt là hệ thống thoát nước thải; Công tác quản lý, bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức; Hầu hết các xã không có cán bộ có chuyên môn về môi trường, chỉ làm kiêm nhiệm; Nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề hạn chế hoặc hầu như không có; Chưa có chế tài bắt buộc của các cơ quan quản lý nhà nước,. Chính vì các lý do nêu trên, dẫn đến tình trạng các làng nghề của Hà Nội hiện đang phải đối mặt với ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, có nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến môi trường sống cũng như phát triển sản xuất.