CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cơ sở vật chất Có thể khẳng định, chất lượng giáo dục quyết định sự phát triển bền vững của bất cứ ngôi trường nào. Trong đó, bên cạnh chương trình đào tạo, lộ trình học tập và đội ngũ giảng viên thì cơ sở vật chất (CSVC) cũng đóng vai trò quan trọng và là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục tại trường.
Ở nghiên cứu này chúng tôi đề cập đến một số khái niệm cơ sở vật chất trong phạm vi trường học. Theo Thạc sĩ Trần Quốc Bảo: “Cơ sở vật chất dạy học: là một hệ thống gồm những phòng học, phòng bộ môn, phòng chức năng, sân chơi, bãi tập, nhà vệ sinh, nhà xe. phục vụ cho công tác giáo dục, đào tạo ở một cơ sở giáo dục nhất định”. [8] Tóm lại, theo cách hiểu như trên ta có thể định nghĩa cơ sở vật chất như sau: “Cơ sở vật chất được hiểu là toàn bộ hệ thống các phương tiện, kỹ thuật được sử dụng cho mục đích giảng dạy, học tập và các hoạt động khác liên quan đến bồi dưỡng, đào tạo tại trường.
Cơ sở vật chất bao gồm trường lớp, không gian trường học đến các trang thiết bị phục vụ trong quá trình học tập và giảng dạy”. Khái niệm chất lượng Ngày nay, hầu hết các trường học và người học đều quan tâm đến chất lượng. Nhưng khi được hỏi về: Khái niệm chất lượng là gì? thì hầu hết mọi người đều khó giải thích một cách chính xác, bởi đây là một khái niệm trìu tượng và khó định nghĩa. Các chuyên gia kinh nghiệm lâu năm trong ngành cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về chất lượng.
9 Theo Harvey và Green trong một nghiên cứu nhằm tổng kết những quan niệm chung của các nhà giáo dục “Assessment & Evaluation in Higher Education” (tạm dịch: Đánh giá và đánh giá trong Giáo dục Đại học”) thì chất lượng được định nghĩa như tập hợp các thuộc tính khác nhau gồm: (1) Chất lượng là sự xuất sắc, (2) Chất lượng là sự hoàn hảo, (3) Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, (4) Chất lượng là sự đáng giá với đồng tiền, (5) Chất lượng là sự chuyển đổi về chất. (29) Theo Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học - The Council for Higher Education Accreditation (CHEA): “Chất lượng: Đề cập đến “sự phù hợp với mục đích” - đáp ứng hoặc phù hợp với các tiêu chuẩn được chấp nhận chung theo quy định của cơ quan kiểm định hoặc đảm bảo chất lượng.” [30] Bởi vậy, với những lĩnh vực khác nhau, mục đích khác nhau thì quan điểm về chất lượng cũng khác nhau. Đối với lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam, Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 61/2012/TT-BGDĐT Ban hành quy định điều kiện thành lập và giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức kiểm định giáo dục do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thì “Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu của cơ sở giáo dục hoặc chương trình giáo dục, đáp ứng các yêu cầu của Luật giáo dục, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước”. [4] Từ những quan điểm trên, có thể hiểu một cách ngắn gọn “Chất lượng là sự đáp ứng cao hay thấp, phù hợp hay không phù hợp so với các tiêu chuẩn được đặt ra trước đó theo quy định của chủ thể đặt ra tiêu chuẩn”.
Khái niệm chất lượng học tập Chất lượng là một khái niệm có tính tương đối. Có nghĩa là khi đánh giá chất lượng phải đối chiếu, so sánh với một thước đo nào đó thường được gọi là chuẩn. Theo cách hiểu thông thường, chất lượng đào tạo là mức độ kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh đạt được sau khi kết thúc một cấp học, bậc học nào đó so với các chuẩn đã được đề ra trong mục tiêu giáo dục. 10 Theo tác giả Trần Khánh Đức (Viện nghiên cứu phát triển giáo dục) quan niệm: “Chất lượng học tập được đánh giá qua mức độ đạt trước mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo và chất lượng học tập là kết quả của quá trình dạy học được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể”.
[7] Mục đích của giáo dục bậc đại học là hướng vào sinh viên. Chất lượng học tập vì thế không chỉ phụ thuộc vào phía nhà trường và giảng viên mà phụ thuộc phần lớn vào phương pháp học tập của sinh viên. Cho nên, điều này lại phụ thuộc vào quan niệm, nhận thức của người học rằng họ biết gì về việc học của mình cũng như những chiến lược học tập nào mà họ sẽ sử dụng. Từ những quan niệm trên, chúng tôi đưa ra quan niệm chất lượng học tập của người học như sau: “Chất lượng học tập của người học là tổng hợp các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và thái độ được hình thành và phát triển trong quá trình học tập rèn luyện ở nhà trường, đáp ứng với mục tiêu yêu cầu đào tạo và nhiệm vụ chức trách sau khi ra trường”.
Khái niệm sinh viên Theo Từ điển Giáo dục học: “Sinh viên là người học của cơ sở giáo dục Cao đẳng, Đại học.” [9] Trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “Sinh viên là những người học ở bậc Đại học.” [14] Theo chúng tôi sinh viên là những người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lý, đó là những người ở độ tuổi khoảng 18-25 và đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học. Có thể nói, khái niệm sinh viên được hiểu ở các khía cạnh khác nhau nhưng đều có những điểm chung về độ tuổi khoảng từ 18 đến 25; là những người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lý; có môi trường học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng. Khái niệm Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội Từ những khái niệm, quan niệm trên, chúng tôi quan niệm: “Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên là những tác động tích cực hay tiêu cực của cơ sở vật chất trường học lên sinh viên để sinh viên có điều kiện tiếp thu kiến thức đáp ứng với mục tiêu yêu cầu đào tạo và công việc, nghành nghề sau khi ra trường” Chúng tôi đưa ra quan niệm về ảnh hưởng của CSVC đến chất lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội như sau: “Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội là những tác động tích cực hay tiêu cực của cơ sở vật chất trường Đại học Nội vụ Hà Nội lên sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội để họ có điều kiện tiếp thu kiến thức đáp ứng với mục tiêu yêu cầu đào tạo và công việc, nghành nghề sau khi ra trường”. Vai trò của cơ sở vật chất đối với việc dạy và học Quá trình dạy và học là hoạt động có mối liên hệ chặc chẽ với nhau, chúng liên kết với nhau qua nhiều thành tố cơ bản như: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp - Giảng viên - Sinh viên - Cơ sở vật chất, trang thiết bị… Các yếu tố này góp phần phản ánh chất lượng dạy học và học tập tại trường học.
Cơ sở vật chất được coi là một yếu tố không thể thiếu để phục vụ trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Đối với việc dạy học: Cơ sở vật chất có vai trò hết sức quan trọng trong nhà trường, chúng ta không thể dạy học mà không có các thiết bị hỗ trợ như tài liệu học tập, bảng viết, máy chiếu, loa, micro, bóng điện, quạt điện,… Thiết bị dạy học (TBDH) là công cụ hiện thực nội dung, mục tiêu dạy học. Giảng đường, phòng học là điều kiện tối thiểu để tổ chức lớp học. Chúng ta không thể giáo dục kỹ năng tin học văn phòng mà không có phòng máy, giáo dục Anh văn mà không có các thiết bị hỗ trợ nghe nói đọc viết, giáo dục thể chất mà không có sân bãi và các dụng cụ thể dục thể thao.
Chính vì vậy, CSVC, trang thiết bị kỹ thuật là điều kiện cần thiết để truyền tải kiến thức, thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao,… tại trường học. 12 Đối với việc học: CSVC, trang thiết bị (TTB) đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên là điều kiện cần thiết của quá trình sư phạm vì nó là phương tiện để tác động tới việc sinh viên có thích thú, hăng say học tập, tìm tòi, sáng tạo hay không. Một môi trường học tập khang trang, hiện đại, sạch đẹp, có sân chơi, có đầy đủ thiết bị hữu ích để học tập, hoạt động giúp cho sinh viên có động lực thúc đẩy tinh thần học tập cao hơn. Bởi vậy, cơ sở vật chất đóng vai trò hỗ trợ tích cực trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tóm lại, cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường là yếu tố cần thiết để sinh viên học tập thuận lợi, dễ dàng, hiểu nhanh, nhớ lâu hơn; để giảng viên giảm thiểu việc trình bày, diễn đạt, mà dành thời gian để tổ chức cho sinh viên tiếp cận, tương tác, trải nghiệm, chủ động tìm tòi, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận tri thức và rèn luyện kỹ năng. Qua đó, các sinh viên có thể dễ dàng và thuận lợi hơn trong việc tiếp thu bài giảng, hiểu sâu và nhớ lâu hơn. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng, quản lý cơ sở vật chất 1. Yếu tố chủ quan Chủ trương chiến lược phát triển của trường Đại học Nội Vụ Hà Nội (ĐHNVHN) là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới công tác xây dựng, quản lý cơ sở vật chất.
Mục tiêu phát triển của trường Đại học Nội Vụ Hà Nội giai đoạn 2020 đến năm 2025 không chỉ lớn mạnh về quy mô mà còn khẳng định chất lượng, uy tín, thương hiệu là một trong những cơ sở hàng đầu trong đào tạo đa nghề, đa lĩnh vực trong nước, trong khu vực và quốc tế.