Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống bệnh viện quân đội (BVQĐ) tại Việt Nam được hình thành từ năm 1946 và tính đến thời điểm nghiên cứu đã phát triển với mạng lưới gồm 34 bệnh viện. Trước khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (Luật số 46/2014/QH13) có hiệu lực, phần lớn các bệnh viện quân đội (29/34 bệnh viện) hoạt động dưới hình thức đơn vị dự toán, thực hiện nhiệm vụ thu dung, cấp cứu, điều trị, khám chữa bệnh cho quân nhân thuộc tuyến đóng quân, khám chữa bệnh cho đối tượng chính sách và nhân dân, đồng thời duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu. Toàn bộ kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước (NSNN) bảo đảm thông qua dự toán của Bộ Quốc phòng (BQP).

Sự ra đời của Nghị định số 70/2015/NĐ-CP ngày 01/9/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đã đặt ra lộ trình bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) đối với quân nhân: đạt ít nhất 60% vào năm 2018 và 100% vào năm 2020. Cơ chế này dẫn đến sự chuyển dịch căn bản về nguồn tài chính bảo đảm hoạt động của bệnh viện quân đội: từ phương thức NSNN bảo đảm toàn bộ sang cơ chế do quỹ BHYT chi trả là chủ yếu, kết hợp với ngân sách quốc phòng (NSQP) bảo đảm cho các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng đặc thù. Do đó, việc nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý tài chính nhằm thích ứng với lộ trình tự chủ tài chính và cơ chế thanh toán BHYT mới là đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn quản lý.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Về mặt lý luận, bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận về cơ chế quản lý tài chính tại các BVQĐ ở Việt Nam. Về mặt thực tiễn, phân tích và đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính các BVQĐ giai đoạn 2013–2017, chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các BVQĐ đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về BVQĐ và cơ chế quản lý tài chính BVQĐ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    2. Khảo sát, phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng cơ chế quản lý tài chính các BVQĐ ở Việt Nam trong giai đoạn 2013–2017.
    3. Đề xuất quan điểm, mục tiêu và hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các BVQĐ đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án xác định 6 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

Số thứ tự Nội dung câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1 Những tồn tại và bất cập của cơ chế phân bổ NSNN, cơ chế thanh toán BHYT quân nhân trong các BVQĐ khi Luật BHYT sửa đổi năm 2014 có hiệu lực?
Câu hỏi 2 Hệ thống chính sách tài chính cần được thay đổi thế nào? Trách nhiệm của Cục Tài chính/BQP, Cục Quân y/BQP, Bảo hiểm Xã hội/BQP ra sao để hướng dẫn các BVQĐ thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính theo hướng tự chủ?
Câu hỏi 3 Cơ chế quản lý tài chính các BVQĐ theo hướng tự chủ cần được xây dựng như thế nào và lộ trình thực hiện ra sao cho phù hợp với đặc thù của từng nhóm BVQĐ?
Câu hỏi 4 Cơ chế đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cần được xây dựng thế nào nhằm tạo điều kiện cho các BVQĐ nâng cao năng lực khám chữa bệnh, tăng năng lực cạnh tranh, thu hút bệnh nhân?
Câu hỏi 5 Khi chuyển sang tự chủ tài chính, cơ chế kiểm soát tài chính phải thay đổi như thế nào? Quy chế chi tiêu nội bộ của BVQĐ phải được xây dựng như thế nào để tăng nguồn thu và tiết kiệm chi phí cho BVQĐ?
Câu hỏi 6 Cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý tài chính được thực hiện như thế nào nhằm nâng cao chất lượng công tác giám định BHYT?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý tài chính bệnh viện từ góc nhìn của người xây dựng chính sách.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các bộ phận cấu thành của cơ chế quản lý tài chính bao gồm: cơ chế quản lý nguồn thu tài chính, cơ chế quản lý chi tài chính, cơ chế quản lý kết quả hoạt động tài chính, cơ chế quản lý tài sản và cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống các BVQĐ tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính giai đoạn 2013–2017; đề xuất định hướng, giải pháp thực hiện đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước

Tác giả đã tổng hợp và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo 4 nhóm chuyên đề chính:

Tổng quan nghiên cứu
  • Cơ chế, chính sách tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập:
    • Phạm Chí Thanh (2011), luận án tiến sĩ "Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam", phân tích thực trạng giai đoạn 1994–2011 về phân cấp quản lý ngân sách, quản lý chi, quản lý tài sản, phí, lệ phí và chuyển dịch phương thức chi NSNN theo kết quả đầu ra; tuy nhiên các giải pháp chưa đi vào chiều sâu từng ngành chuyên biệt như y tế hay quốc phòng.
    • Bộ Nội vụ (2017), đề án "Đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập", chỉ rõ hạn chế trong phân bổ ngân sách chi thường xuyên, giá dịch vụ y tế chưa kết cấu khấu hao, định mức chi lạc hậu và vướng mắc trong việc liên doanh liên kết trang thiết bị.
    • Trần Thu Hà (1997), đề tài cấp Bộ "Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu", cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP, Nghị định 43/2006/NĐ-CP và sau này là Nghị định 16/2015/NĐ-CP.
  • Cơ chế, chính sách tài chính phát triển sự nghiệp y tế:
    • Hoàng Thị Thúy Nguyệt (2006), luận án tiến sĩ "Giải pháp tài chính thúc đẩy sự nghiệp y tế ở Việt Nam", làm rõ công cụ tài chính giai đoạn 1990–2004, đề xuất định hướng chi NSNN có trọng điểm và mở rộng diện bao phủ BHYT.
    • Nguyễn Trường Giang (2003), luận án tiến sĩ "Đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước", tập trung vào phương thức xây dựng định mức phân bổ ngân sách và trợ cấp y tế trước thời điểm Luật NSNN 2015 và Luật BHYT sửa đổi 2014 ra đời.
  • Cơ chế quản lý tài chính đối với bệnh viện công lập:
    • Trần Thế Cương (2016), luận án tiến sĩ "Mở rộng tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập ở Việt Nam (Qua khảo sát các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội)", hệ thống hóa các tiêu chí định tính, định lượng về tự chủ bệnh viện công lập trên địa bàn đô thị.
    • Phạm Thị Thanh Hương (2017), luận án tiến sĩ "Đổi mới cơ chế quản lý tài chính các bệnh viện công ở Việt Nam", phân tích cơ chế phân bổ NSNN, thanh toán BHYT và viện phí tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP nhưng chưa xem xét khối bệnh viện lực lượng vũ trang.
  • Cơ chế, chính sách tài chính đối với đơn vị dự toán quân đội:
    • Trần Đình Thăng (2011), luận án tiến sĩ "Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng ở Việt Nam", nghiên cứu cơ cấu chi NSNN cho quốc phòng nói chung.
    • Nguyễn Huy Tranh (2011), luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước về tài chính hoạt động có thu tại đơn vị dự toán quân đội", đặt ra yêu cầu hoạt động có thu không được ảnh hưởng đến nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, nhưng chưa phân tích mô hình bệnh viện quân đội khi chuyển đổi sang cơ chế BHYT quân nhân.
  • Nghiên cứu quốc tế:
    • Tập đoàn Brookline Medical Singapore (2008), đề tài "Mô hình quản trị bệnh viện", nghiên cứu quản trị nguồn vốn, doanh thu, chi phí và giám sát tài chính bệnh viện hiện đại.
    • Chi nhánh Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Đông Nam Á (2004), báo cáo "Tổng quan về BHYT ở Đông Nam Á", phân tích hoạt động thu chi của các quỹ BHYT và mối quan hệ thanh toán viện phí.

Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án

Các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận cơ chế tài chính bệnh viện công lập dân y hoặc nghiên cứu tổng thể tài chính quốc phòng, chưa có công trình nào giải quyết toàn diện cơ chế quản lý tài chính tại các BVQĐ trong bối cảnh thực hiện Luật BHYT sửa đổi năm 2014 và Nghị định 70/2015/NĐ-CP. Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết bao gồm:

  1. Xây dựng khung lý luận về cơ chế quản lý tài chính BVQĐ có gắn kết giữa hoạt động cung ứng dịch vụ y tế theo cơ chế thị trường và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng đặc thù.
  2. Phân tích đồng bộ 5 cấu phần quản lý tài chính bệnh viện (quản lý thu, quản lý chi, quản lý kết quả hoạt động, quản lý tài sản, kiểm tra kiểm soát) trong môi trường dự toán quân đội kết hợp tự chủ tài chính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi

  • Bệnh viện quân đội: Là đơn vị do Bộ Quốc phòng thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho quân nhân và các đối tượng khác; đồng thời thực hiện các nhiệm vụ được giao khác của Quân đội và Nhà nước.
  • Phân loại bệnh viện quân đội:
    • Theo nhiệm vụ khám chữa bệnh: Bệnh viện chuyên khoa quân đội và Bệnh viện đa khoa quân đội.
    • Theo phạm vi hoạt động: Bệnh viện dã chiến (cơ động, phục vụ chiến dịch) và Bệnh viện khu vực (điều trị chuyên sâu theo tuyến địa bàn).
    • Theo cấp quản lý: Tuyến trực thuộc Bộ (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 hạng đặc biệt, Bệnh viện 175, Bệnh viện Y học cổ truyền Quân đội); tuyến trực thuộc Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn; tuyến cơ sở gồm bệnh xá sư đoàn, trung đoàn, bộ chỉ huy quân sự tỉnh.
    • Theo phân hạng đơn vị sự nghiệp y tế: Thông tư số 215/2013/TT-BQP xếp hạng bệnh viện gồm hạng đặc biệt, hạng I, hạng II và hạng III.
  • Cơ chế quản lý tài chính BVQĐ: Là tổng thể các nguyên tắc, phương pháp, công cụ được quy định trong hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước và Bộ Quốc phòng nhằm huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bệnh viện quân đội hướng đến những mục tiêu đã xác định, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, củng cố đoàn kết quân dân y.
       Cơ chế quản lý tài chính BVQĐ
  • Cơ chế tự chủ tài chính BVQĐ: Là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các BVQĐ về hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động; tự cân đối nguồn thu để chi trả các khoản chi thường xuyên, giảm dần sự bao cấp trực tiếp từ NSNN nhưng vẫn bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp cụ thể sau:

  • Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: Xem xét sự vận động của cơ chế tài chính quân đội và tài chính y tế qua các thời kỳ chính sách, từ giai đoạn bao cấp kinh phí dự toán sang giai đoạn thực hiện BHYT bắt buộc đối với quân nhân.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp dữ liệu từ các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống báo cáo quyết toán ngân sách, báo cáo tổng kết tài chính và quân y của 34 BVQĐ giai đoạn 2013–2017.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh: Phân tích cơ cấu nguồn thu (NSNN, BHYT, dịch vụ y tế, thu khác), cơ cấu nội dung chi và tình hình đầu tư trang thiết bị qua hệ thống các bảng biểu, biểu đồ so sánh giữa các nhóm bệnh viện và giữa các năm.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Khái quát các mô hình quản lý thu - chi và tự chủ tài chính trong thực tế tại các bệnh viện đã tự chủ và chưa tự chủ, rút ra quy luật và bài học kinh nghiệm để đề xuất chính sách.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng (Luật NSNN 2015, Luật BHYT 2014, Nghị định 70/2015/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP, Thông tư 215/2013/TT-BQP...).
  • Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán kinh phí nghiệp vụ, quyết toán BHYT của Cục Tài chính/BQP, Cục Quân y/BQP, Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng và các bệnh viện quân đội trong giai đoạn 2013–2017.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về cơ chế quản lý tài chính bệnh viện quân đội

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về tổ chức bệnh viện quân đội và cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho loại hình đơn vị này:

  • Khái niệm và đặc trưng của BVQĐ: Khẳng định BVQĐ là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lực lượng vũ trang, mang tính chất phi lợi nhuận, cung cấp sản phẩm dịch vụ y tế gắn liền với mục tiêu duy trì sức khỏe bộ đội và sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng - an ninh.
  • Các cấu phần của cơ chế quản lý tài chính:
    • Quản lý nguồn thu: Bao gồm nguồn NSNN cấp (chi thường xuyên theo biên chế, định mức giường bệnh và chi nghiệp vụ chuyên môn); nguồn thu từ quỹ BHYT (thanh toán BHYT nhân dân qua BHXH Việt Nam và BHYT quân nhân qua BHXH Bộ Quốc phòng theo các phương thức định suất, giá dịch vụ hoặc theo ca bệnh); nguồn thu từ dịch vụ y tế (thu một phần hoặc toàn bộ viện phí) và nguồn thu hợp pháp khác (thanh lý tài sản, dịch vụ căng tin, trông giữ xe, liên doanh liên kết).
    • Quản lý chi tài chính: Chia thành các nhóm: Nhóm I (chi thường xuyên cho con người gồm lương, phụ cấp, tiền ăn, các khoản đóng góp); Nhóm II (chi nghiệp vụ chuyên môn, vật tư, thuốc không quá 70% chi chuyên môn, hành chính phí); Nhóm III (chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định); Nhóm IV (chi đột xuất).
    • Phương thức quản lý chi NSQP: Quản lý theo dự toán năm từ Kho bạc Nhà nước, quản lý theo lệnh chi tiền (đối với xây dựng cơ bản, chương trình mục tiêu) và cấp phát tiền mặt đối với nhiệm vụ khẩn cấp.
  • Bài học kinh nghiệm từ bệnh viện công lập: Tổng kết kinh nghiệm đổi mới tài chính tại các bệnh viện công lập trực thuộc Bộ Y tế khi chuyển đổi từ cơ chế cấp phát bình quân sang cơ chế tự chủ, định giá dịch vụ tính đúng tính đủ và xã hội hóa y tế để áp dụng có chọn lọc vào khối quân đội.

Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính bệnh viện quân đội ở Việt Nam

Chương 2 trình bày bức tranh thực trạng quản trị tài chính tại 34 BVQĐ giai đoạn 2013–2017:

  • Quy mô và tổ chức: Trong 34 BVQĐ, tính đến năm 2017 có 05 bệnh viện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, 29 bệnh viện vẫn là đơn vị dự toán nhận bảo đảm từ NSNN.
  • Thực trạng các nguồn thu và cơ cấu phân bổ:
    • Sự dịch chuyển cơ cấu thu: Trước năm 2015, NSNN là nguồn bảo đảm chủ đạo. Sau khi áp dụng Nghị định 70/2015/NĐ-CP, tỷ trọng nguồn thu từ BHYT quân nhân và BHYT nhân dân tăng lên rõ rệt, nguồn NSNN cấp chi thường xuyên giảm dần theo lộ trình đóng BHYT (đạt mức đóng 4,5% tiền lương/lương cơ sở do NSNN bảo đảm toàn bộ cho quân nhân).
    • Nguồn thu viện phí và dịch vụ y tế tăng trưởng nhưng phân bổ không đồng đều giữa các tuyến, tập trung chủ yếu ở các bệnh viện tuyến cuối (Bệnh viện 108, Bệnh viện 175) và các bệnh viện quân khu ở đô thị.
  • Tổng hợp số liệu và các bảng phân tích thực trạng:
Nhóm chỉ tiêu phân tích Nội dung phản ánh trong giai đoạn 2013–2017
Cơ cấu khám và điều trị bệnh Phân định số lượt khám bệnh và ngày điều trị nội trú giữa đối tượng quân nhân, đối tượng BHYT nhân dân và đối tượng dịch vụ y tế (số liệu so sánh các năm 2015, 2017).
Nguồn thu NSNN cấp Tổng hợp kinh phí NSNN cấp thường xuyên và nghiệp vụ chuyên môn; phản ánh xu hướng giảm tỷ trọng cấp trực tiếp tiền lương khi kết cấu lương vào giá dịch vụ KCB.
Doanh thu BHYT và dịch vụ y tế Tăng trưởng nhanh về chi phí khám chữa bệnh BHYT và chi phí điều trị dịch vụ y tế tại các BVQĐ sau khi thực hiện thông tuyến huyện và thí điểm BHYT quân nhân từ năm 2016.
Sử dụng nguồn thu có thu & nộp NS Thống kê số nộp NSNN/NSQP và tỷ lệ trích lập các quỹ (quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, quỹ khen thưởng, phúc lợi, bổ sung thu nhập) tại các đơn vị có thu.
Đầu tư trang thiết bị y tế Thống kê cơ sở vật chất, tỷ trọng thiết bị y tế mua sắm từ NSNN so với nguồn vốn huy động, xã hội hóa và liên doanh liên kết tính đến năm 2017.
  • Đánh giá chung:
    • Kết quả đạt được: Đảm bảo kịp thời nguồn lực cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chăm sóc sức khỏe bộ đội; từng bước hiện đại hóa trang thiết bị; bước đầu tạo nguồn thu hợp pháp để cải thiện thu nhập cho cán bộ, nhân viên y tế.
    • Hạn chế và bất cập: Cơ chế phân bổ dự toán NSNN còn mang tính bình quân; thủ tục thanh toán BHYT quân nhân còn vướng mắc do đặc thù bảo mật và phân tuyến quân y; cơ chế huy động vốn đầu tư trang thiết bị y tế còn thiếu hành lang pháp lý rõ ràng; quy chế chi tiêu nội bộ tại nhiều đơn vị chưa gắn liền với mức độ tự chủ và hiệu quả công việc.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các bệnh viện quân đội ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp cụ thể đến năm 2025, tầm nhìn 2030:

  • Bối cảnh, mục tiêu, quan điểm hoàn thiện: Chuyển đổi căn bản cơ chế tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhưng không làm suy giảm chất lượng bảo đảm quân y cho quốc phòng, kết hợp hài hòa nhiệm vụ quân sự và dân sinh.
  • Hệ thống các giải pháp trọng tâm:
    1. Đổi mới cơ chế phân bổ NSNN: Thay đổi phương thức cấp phát truyền thống theo yếu tố đầu vào sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ gắn với kết quả đầu ra; NSQP chỉ tập trung bảo đảm cho các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, phòng chống dịch bệnh, y tế biển đảo và duy trì phân đội dã chiến.
    2. Hoàn thiện cơ chế thanh toán chi phí KCB BHYT: Đơn giản hóa quy trình giám định BHYT giữa Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng và các BVQĐ; áp dụng phương thức thanh toán kết hợp giữa giá dịch vụ và định suất, nâng cao tỷ lệ liên thông dữ liệu khám chữa bệnh.
    3. Xây dựng phương pháp đánh giá mức độ tự chủ và lộ trình tự chủ tài chính: Thiết lập bảng nhóm tiêu chí đánh giá mức độ tự chủ có tính đến đặc thù quân sự (sử dụng hệ thống trọng số và hệ số điều chỉnh tăng thêm K cho các bệnh viện vùng sâu, biên giới, hải đảo hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng nặng nề).
    4. Cơ chế huy động vốn đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế: Quy định rõ ràng hình thức liên doanh, liên kết, vay vốn tín dụng ưu đãi, thuê tài chính để mua sắm máy móc kỹ thuật cao, tránh tình trạng lạm dụng kỹ thuật hoặc thất thoát tài sản công.
    5. Hoàn thiện hệ thống định mức, tiêu chuẩn và quy chế chi tiêu nội bộ: Xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật nội bộ làm cơ sở trả lương theo vị trí việc làm và hiệu quả công việc, khuyến khích tiết kiệm chi phí nghiệp vụ hành chính.
    6. Hoàn thiện cơ chế phân phối thu nhập và quỹ sự nghiệp: Phân phối thu nhập tăng thêm công bằng, minh bạch; trích lập hợp lý Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để tái đầu tư chiều sâu.
    7. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát tài chính và ứng dụng CNTT: Hiện đại hóa phần mềm quản trị bệnh viện, kiểm soát chi nội bộ song song với kiểm toán định kỳ của Cục Tài chính/BQP.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và bổ sung toàn diện khái niệm, đặc điểm, vị trí và nội dung cơ chế quản lý tài chính BVQĐ trong giai đoạn chuyển đổi mô hình bảo đảm y tế sang BHYT toàn diện cho quân nhân.
  • Xác lập khung lý thuyết phân định rõ hai mảng tài chính trong một bệnh viện lực lượng vũ trang: phần kinh phí phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng do NSNN/NSQP bảo đảm; phần kinh phí khám chữa bệnh dân sự và BHYT vận hành theo cơ chế tự chủ tài chính sự nghiệp công lập.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng và phương pháp xác định mức độ tự chủ tài chính phù hợp với BVQĐ, có tích hợp hệ số điều chỉnh K phản ánh nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và địa bàn đóng quân đặc thù.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp

  • Cung cấp bộ dữ liệu đánh giá thực trạng tài chính của toàn bộ 34 BVQĐ giai đoạn 2013–2017, chỉ ra những điểm nghẽn trong thanh toán BHYT quân nhân và phân bổ NSNN.
  • Đề xuất lộ trình phân nhóm tự chủ cụ thể cho từng hạng bệnh viện (tuyến cuối, quân khu, quân chủng, quân đoàn) đến năm 2025 và 2030.
  • Đưa ra khuyến nghị chính sách trực tiếp cho Bộ Quốc phòng, Cục Tài chính, Cục Quân y và Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng trong việc ban hành quy chế liên doanh liên kết, mẫu quy chế chi tiêu nội bộ và phương thức tạm ứng, thanh quyết toán BHYT quân nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Phạm vi dữ liệu khảo sát thực trạng dừng lại ở mốc thời gian 2013–2017, phản ánh giai đoạn đầu khi Nghị định 70/2015/NĐ-CP mới bắt đầu triển khai thí điểm BHYT quân nhân.
    • Việc tiếp cận một số chỉ tiêu tài chính chi tiết gặp giới hạn do yêu cầu về bảo mật số liệu quốc phòng đối với các đơn vị lực lượng vũ trang.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Đánh giá tác động toàn diện của cơ chế tự chủ tài chính sau năm 2020 khi tỷ lệ quân nhân tham gia BHYT đã đạt mốc 100% theo quy định.
    • Nghiên cứu sâu cơ chế hạch toán giá thành dịch vụ khám chữa bệnh quân y khi kết cấu đầy đủ chi phí quản lý và hao mòn/khấu hao tài sản cố định trong môi trường bệnh viện quân đội.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Là tài liệu tham khảo cho Bộ Quốc phòng (Cục Tài chính, Cục Quân y, BHXH Bộ Quốc phòng), Bộ Tài chính và Bộ Y tế trong việc xây dựng văn bản hướng dẫn tự chủ tài chính, cơ chế giao dự toán và thanh quyết toán BHYT cho các đơn vị sự nghiệp y tế thuộc lực lượng vũ trang.
  • Đối với ban giám đốc và cơ quan tài chính các BVQĐ: Cung cấp khung phương pháp luận và các biểu mẫu tham chiếu để xây dựng đề án tự chủ tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ, kế hoạch mua sắm trang thiết bị và phân phối thu nhập tăng thêm.
  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản lý kinh tế: Cung cấp tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về quản lý tài chính công trong lĩnh vực y tế quân đội, một phân ngành mang tính đặc thù cao giữa quản lý hành chính sự nghiệp và kinh tế dịch vụ y tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao cơ chế quản lý tài chính của bệnh viện quân đội phải thay đổi căn bản sau năm 2015?

Trước năm 2015, hầu hết các BVQĐ (29/34 bệnh viện) là đơn vị dự toán nhận kinh phí hoạt động hoàn toàn từ NSNN cấp qua Bộ Quốc phòng. Khi Luật sửa đổi Luật BHYT 2014 và Nghị định 70/2015/NĐ-CP được ban hành, quân nhân bắt buộc tham gia BHYT (đạt 60% năm 2018 và 100% năm 2020). Kinh phí khám chữa bệnh thường xuyên chuyển từ NSNN cấp trực tiếp sang quỹ BHYT chi trả thông qua hợp đồng khám chữa bệnh với Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng.

2. Sự khác biệt giữa cơ chế quản lý tài chính bệnh viện quân đội và bệnh viện công lập thông thường là gì?

Bệnh viện công lập thông thường hoạt động hoàn toàn theo chức năng dân sinh và cơ chế tự chủ sự nghiệp công y tế. Bệnh viện quân đội vừa thực hiện khám chữa bệnh theo cơ chế thị trường và BHYT (cho cả quân nhân và nhân dân), vừa phải duy trì biên chế, lực lượng, trang thiết bị để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tác chiến A2, cứu hộ cứu nạn và y tế biển đảo do NSQP bảo đảm.

3. Nguồn kinh phí đóng bảo hiểm y tế cho quân nhân được hình thành từ đâu?

Theo quy định tại Nghị định 70/2015/NĐ-CP, quân nhân không phải tự đóng tiền BHYT mà NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí đóng BHYT với mức đóng là 4,5% tiền lương đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và 4,5% mức lương cơ sở đối với hạ sĩ quan, binh sĩ.

4. Luận án đề xuất tiêu chí gì để đánh giá mức độ tự chủ tài chính cho các bệnh viện quân đội?

Luận án đề xuất hệ thống nhóm tiêu chí đánh giá mức độ tự chủ kết hợp giữa các chỉ số tự bảo đảm chi thường xuyên, quy mô giường bệnh, phân hạng bệnh viện theo Thông tư 215/2013/TT-BQP và bổ sung hệ số điều chỉnh tăng thêm K nhằm bù đắp cho các bệnh viện ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc có tỷ trọng nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu cao.

5. Phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT nào được áp dụng trong bệnh viện quân đội?

Gồm 3 phương thức chính: thanh toán theo giá dịch vụ (dựa trên chi phí thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, kỹ thuật thực tế sử dụng), thanh toán theo định suất (dựa trên định mức chi phí tính trên đầu thẻ BHYT đăng ký ban đầu) và thanh toán theo trường hợp bệnh (xác định trước theo chẩn đoán ca bệnh).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Cơ chế quản lý tài chính các bệnh viện quân đội ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Anh Tuấn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương diện tài chính công áp dụng trong lĩnh vực y tế quân đội. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý thu, chi, tài sản và tự chủ tài chính trong điều kiện chuyển đổi mô hình bảo đảm y tế quân nhân sang cơ chế bảo hiểm y tế theo Nghị định số 70/2015/NĐ-CP. Trên cơ sở phân tích thực trạng giai đoạn 2013–2017 tại 34 bệnh viện quân đội, tác giả đã chỉ ra các bất cập về phân bổ ngân sách, thanh quyết toán BHYT và đầu tư trang thiết bị, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện về đổi mới phân bổ kinh phí, xác định mức độ tự chủ theo hệ số đặc thù quốc phòng và hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ đến năm 2025, tầm nhìn 2030.