CHƯƠNG I: TONG QUAN CÁC NGHIÊN CUU QUOC TE VÀ TRONG NƯỚC VE CHUYEN DỊCH CƠ CÁU LĨNH VUC THƯƠNG MẠI 1. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Nghiên cứu về lý luận Nghiên cứu của chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Viện phát triển bền vững quốc tế (IISD) (2014) “Trade and Green Economy - Thương mại và Kinh tẾ xanh”. Mục tiêu chính của cam nang nay là làm cho mối quan hệ phức tạp giữa thương mại quốc tế và nền kinh tế xanh trở nên dễ hiểu va dé tiếp cận hơn đối với các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng chính sách rộng lớn hơn.
Mối quan hệ giữa thương mại, môi trường và sự phát triển là một sự tương tác vô cùng phức tạp thay đôi giữa các quốc gia, ngành này sang lĩnh vực khác và từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, mang lại thách thức nhưng cũng là cơ hội quan trọng cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh. Thách thức đối với tất cả các bên liên quan này là khai thác các cơ hội và giảm thiểu các mối de dọa, và làm như vậy dé tối đa hóa đóng góp tích cực ròng mà thương mại có thể tạo ra cho quá trình chuyền đổi sang nền kinh tế xanh. Hiểu biết rộng hơn và rõ ràng hơn về mối liên hệ giữa thương mại, môi trường và phát triển là điều kiện tiên quyết dé năm bắt các cơ hội đó, giảm thiểu các mỗi đe doa đó và cuối cùng giúp dam bao rằng thương mai, nâng cao phúc lợi con người, công băng xã hội và bảo vệ môi trường có thê ho trợ lần nhau. 6699 Nghiên cứu của Hội nghị liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) (2013) “Are there downsides to a greenth economy: The Trade, Investhuong maient and Competitiveness Implications of Unilateral Green Economic Pursuit - Những mặt trái nào của kinh tế xanh?”.
Nghiên cứu đã nhắn mạnh răng theo đuôi nền kinh tế xanh cũng có nghĩa là chuyên dich cơ cấu kinh tế theo hướng nhu cầu đối với hàng hóa có hại cho môi trường sẽ giảm xuống và nhu cầu đối với hàng hóa có lợi cho môi trường sẽ tăng lên. Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia đều sẽ chịu những tác động như nhau từ việc theo đuôi kinh tế xanh. Có lo ngại rằng một số quốc gia sẽ phải chịu những điều kiện thương mại tồi tệ hơn trong nền kinh tế xanh. Bên cạnh đó, Bai báo cũng đưa ra day đủ các biện pháp trong nước khả thi mà các quốc gia có thé thực hiện, đồng thời nêu bật những biện pháp có khả năng tác động đến thương mại và đầu tư bao gồm: Cải cách trợ cấp; áp thuế liên quan đến môi trường, các công cụ thuế, phí và lệ phí khác; Sử dụng các quy định, tiêu chuẩn hoặc điều cắm; Xoá bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hoá và dịch vụ xanh; Tăng tài trợ cho chuỗi đổi mới; Ưu đãi đầu tư; Hỗ trợ có điều kiện; Mua sắm công bền vững.
Mặc dù có một số cơ sở để các nước đang phát triển lo ngại về tác động của nền kinh tế xanh đối với thương mại, đầu tư và các điều kiện cạnh tranh của quốc gia. Tuy nhiên, đặt trong quan điểm của toàn bộ nỗ lực theo đuôi kinh tế xanh của thé giới, van đề của một số biện pháp dường như là ngoại lệ hơn là quy luật với mọi quốc gia. Rõ ràng là cần phải nghiên cứu sâu hơn những biện pháp tiềm năng hướng đến sự quan tâm của cộng đồng quốc tế nếu chúng ta muốn nhận được tiềm năng lớn nhất từ động lực quốc tế cho nền kinh tế xanh. Evi Susanti Tasri (2017) “Trade policy and green growth - Chính sách thương mai và tăng trưởng xanh” Bài báo đã đánh giá mỗi liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là tăng trưởng xanh và chính sách Thương mại dưới hình thức mở cửa kinh tế.
Nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng tài liệu khảo sát và thực nghiệm. Kết quả của nghiên cứu lý thuyết tài liệu và kết quả thực nghiệm sử dụng dữ liệu bảng cho thấy tác động đáng ké của chính sách thương mại mở cửa đối với tăng trưởng GDP xanh của các quốc gia. Nghiên cứu đã chỉ ra hiện nay, các chỉ số về phát triển kinh tế không đi kèm với thông tin về sự suy giảm của tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường. Cách tiếp cận nền kinh tế xanh là một khái niệm đã tính đến tác động của sự cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường, là một mô hình kinh tế tiếp cận theo hướng phát triển không còn dựa vào khai thác tài nguyên và gây áp lực với môi trường.
Kinh tế xanh là mô hình phát triển kinh tế dựa trên kiến thức về sinh thái và kinh tế xanh nhằm giải quyết sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế và hệ sinh thái cũng như giảm thiểu tác động tiêu đến biến đồi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu. Các yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế; (1) dan số, (2) tài nguyên thiên nhiên, (3) công nghiệp sản xuất, (3) sản xuất nông nghiệp, và (4) ô nhiễm. Trong đó 1 và 2 có tác động tích cực đến tăng trưởng, trong khi đó 3, 4 và 5 có tác động tiêu cực đến sự phát triển như ô nhiễm, thiếu hụt tài nguyên và gia tăng nghèo đói. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối tương quan nghịch biến đáng kể giữa độ mở của nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế xanh theo các kết quả thực nghiệm, cả đối với nhóm các nước đang phát triển và phát triển.
Vì vậy, khi thực hiện các chính sách thương mại của mỗi quốc gia cần bắt đầu chú ý đến tác động tiêu cực do chính sách đó gây ra đối với môi trường hoặc tăng trưởng xanh. Điều này rất quan trọng vì sự tăng trưởng của nền kinh tế xanh có thể xác định cách một quốc gia có thể đạt được sự phát triển kinh tế bền vững hay không. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc-UNEP (2012) “Green Economy and Trade Opportunities - Kinh tế xanh và cơ hội cho thương mai”. Nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá các cơ hội thương mại quốc tế liên quan đến quá trình chuyên đổi sang nền kinh tế xanh, và đặc biệt là cách các nước dang phát triển có thé tăng xuất khâu dé đáp ứng nhu cầu quốc tế về hang hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường.
Nghiên cứu tập trung vào sáu lĩnh vực kinh tế chủ chốt được coi là có nhiều tiềm năng tạo cơ hội giao thương đồng thời góp phần chuyền đổi sang nền kinh tế xanh: nông nghiệp, thủy sản, rừng, sản xuất, năng lượng tái tạo và du lịch. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng các cơ hội thương mại quan trọng chưa được khai thác vẫn tồn tại và dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng trong tương lai. Đặc biệt, các thị trường xuất khẩu thực phẩm, sản phẩm, dịch vụ, năng lượng và du lịch xanh và bền vững, dự kiến sẽ tăng trưởng nhanh chóng do sở thích của người tiêu dùng thay đổi khi thế giới nhận thức rõ hơn về môi trường. Điều quan trọng là xác định các cơ hội thương mại này, cùng với các cải cách chính sách có thé thúc day và tăng cường năng lực của các nước đang phát triển dé hưởng lợi từ chúng.
Hội nghị liên hợp quốc về thương mại và phát trién-UNCTAD (2011), “The Green Economy: Trade and Sustainable Development Implications - Nền kinh té xanh: Thương mai va các ham ý phát triển bền vững”. Nghiên cứu đã chỉ ra qua trình chuyên đổi nền kinh tế xanh đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ tại khắp mọi nơi trên thế giới. Động lực hướng tới chuyên đổi nền kinh tế xanh ở cả các nước phát triển và đang phát triển thê hiện rõ ràng trong một loạt các lĩnh vực bao gồm năng lượng, nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ cùng các lĩnh vực khác. Bài báo này chủ yếu tập trung vào những cơ hội mà thương mại toàn cầu có thé mang lại trong quá trình chuyên đổi sang nền kinh tế xanh và cách hội nghị Rio + 20 có thé xúc tác quá trình chuyển đổi bằng cách tạo ra đầu tư mới, nguồn thu nhập và việc làm giữa các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau.
Nó giải thích rõ ràng rằng thương mại đóng một vai trò thiết yếu trong việc phổ biến hàng hóa, dịch vụ, công nghệ và sản xuất xanh giữa các quốc gia và điều này giúp tăng trưởng kinh tế và đóng góp vào các mục tiêu phát triển về môi trường và xã hội. Báo cáo nhân mạnh rằng tăng trưởng từ thương mại quốc tế hàng hóa và dịch vụ xanh cần phải bao trùm, xây dựng năng lực con người và năng lực sản xuất của các nước đang phát triển và kích thích đa dạng hóa kinh tế, việc làm cho người nghèo và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như năng lượng, nước, nhà ở giáo dục, truyên thông và vận tải. Fabio Mendez, Javier Arturo Reyes, Raja Kali (2007) “Trade structure and economic growth - Câu trúc thương mai và tăng trưởng kinh tế”. Bài viết chỉ ra rằng cơ cầu thương mại, không phụ thuộc vào mức độ thương mại, có ảnh hưởng quan trọng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy số lượng đối tác thương mại có mỗi quan hệ tương quan thuận chiều với tăng trưởng ở tất cả các quốc gia, và tác động này rõ ràng hơn đối với các quốc gia giàu có. Tập trung thương mại có mối quan hệ thuận chiều với tăng trưởng ở tất cả các nước, và ảnh hưởng tập trung ở các nước nghèo. Các nghiên cứu trước đây đã bỏ qua những đặc điểm này của thương mại, mặc dù nhóm tác giả cho rằng những đặc điểm đó phù hợp và chúng có thể dẫn đến những cách hiểu mới về mỗi quan hệ thương mại - tăng trưởng. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc -UNEP (2013), “Opportunities and challenges: the role of trade in the green economy - Cơ hội và thách thức: Vai trò của thương mai trong nền kinh tế xanh”.
Báo cáo cho thấy mối quan hệ giữa thương mại và quá trình chuyên đổi sang nên kinh tế xanh phức tạp và nhiều mặt như thế nào. Thương mại rõ ràng có tiềm năng tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, chăng hạn bằng cách thúc đây trao đổi hàng hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường.