Chương 1 luận văn đưa ra những khái niệm về tăng trưởng xanh và giới thiệu về chiến lược chương trình tăng trưởng xanh của Hàn Quốc. Chương 2 cũng là chương quan trọng nhất, đi sâu vào tìm hiểu vai trò của chương trình tăng trưởng xanh trong phát triển công nghiệp, nâng cao đời sống con người và đặc biệt là trong quá trình thích ứng với hiện tượng biến đổi khí hậu của Hàn Quốc. Chương cuối cùng người viết đưa ra những chương trình, dự án của Hàn Quốc đã và đang ứng dụng tại Việt Nam. Trần Thị Bình Minh- K10 Châu Á học 7 z Vai trò của “tăng trưởng xanh” trong phát triển bền vững và giảm thiểu biến đổi khí hậu của Hàn Quốc, khả năng ứng dụng tại Việt Nam CHƢƠNG 1 “TĂNG TRƢỞNG XANH” VÀ CHIẾN LƢỢC CHƢƠNG TRÌNH “TĂNG TRƢỞNG XANH” CỦA HÀN QUỐC 1.
Lý luận chung về “tăng trƣởng xanh” 1. Khái niệm, bản chất của “tăng trƣởng xanh” a. Khái niệm của “tăng trƣởng xanh” Khái niệm “tăng trưởng xanh” lần đầu tiên được đề cập trên tờ Economist ngày 27 tháng 1 năm 2000 và bắt đầu được sử dụng rộng rãi qua forum Davos. Sau đó khái niệm này được đưa ra và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ tại hội nghị của Uỷ ban Liên hợp quốc về kinh tế và xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (UNESCAP) năm 2005.
Đặc biệt trong tuyên bố hội nghị các bộ trưởng của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD ngày 24 tháng 6 năm 2009 cũng bao gồm những nội dung của Tăng trưởng xanh. Như vậy trước những bất ổn về môi trường, thế giới cùng các nền kinh tế lớn đã triển khai sáng kiến “Tăng trưởng xanh” với nhận định đó là sự lựa chọn tốt nhất cho sự phát triển bền vững của các quốc gia, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định, vừa làm dịu những căng thẳng của thiên nhiên, ngăn chặn chảy máu tài nguyên và tạo nên bùng nổ việc làm trong thế kỷ XXI. Chưa có định nghĩa thống nhất về “Tăng trưởng xanh”. Tuy nhiên, dựa trên quan điểm môi trường là một hệ thống các tài nguyên có giới hạn và có năng lực tự điều chỉnh và tự tái tạo thì “Tăng trưởng xanh” nói đến việc tạo dựng một hệ thống kinh tế phản ánh sự tích hợp giữa các hệ sinh thái và đảm bảo khả năng phục hồi của các hệ thống hỗ trợ sự sống.
Nếu dựa trên niềm tin rằng, văn hoá và giá trị của con người là các nguồn lực quý giá nhất thì “Tăng trưởng xanh” là một hệ thống tăng trưởng kinh tế sung túc, bền vững cần được tạo ra để đảm bảo mọi thành viên của cộng đồng đều có khả năng tiếp cận những chuẩn mực sống căn bản và đầy đủ, cũng như các cơ hội phát triển của bản thân và xã hội. Trần Thị Bình Minh- K10 Châu Á học 8 z Vai trò của “tăng trưởng xanh” trong phát triển bền vững và giảm thiểu biến đổi khí hậu của Hàn Quốc, khả năng ứng dụng tại Việt Nam “Tăng trưởng xanh” hay còn gọi là “Tăng trưởng sạch”, là sự phát triển kinh tế theo chính sách có định hướng là thị trường, nền tảng là các nền kinh tế truyền thống, mục tiêu là sự hoà hợp của kinh tế và môi trường, sinh thái. Động lực mới của Tăng trưởng xanh là bảo vệ môi trường, phát triển công nghệ sản xuất sạch, nhanh chóng đạt được mức tăng trưởng kinh tế bền vững. Cũng có thể hiểu rất đơn giản “Tăng trưởng xanh” là những hoạt động kinh tế, đặc biệt là sản xuất thân thiện với môi trường và phát triển năng lượng sạch.
Sản phẩm của nó có thể là các toà nhà được xây dựng với các vật liệu ít gây ô nhiễm hơn, tiết kiệm nhiên liệu trong quá trình sử dụng và có thể tự tạo nhiên liệu; có thể là các sản phẩm sinh học (thực phẩm, mỹ phẩm, quần áo,…) chống ô nhiễm môi trường (hệ thống xử lý nước thải, rác,…), ngành giao thông vận tải (xe tiết kiệm nhiên liệu, sử dụng các nhiên liệu thiên nhiên nắng, gió, mặt trời,…), tất cả các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác phù hợp với tiêu chí “sản phẩm xanh”. Thực chất khái niệm tăng trưởng xanh được khởi xướng bởi Hàn Quốc – nước chủ nhà của “Hội nghị Bộ trưởng Môi trường và phát triển” năm 2005. Đây được coi là khái niệm bổ sung cho khái niệm phát triển bền vững- một khái niệm khá rộng và trừu tượng. Bản chất của “tăng trƣởng xanh” Bản chất của tăng trưởng xanh là mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường.
Tăng trưởng xanh 1 (Kinh tế -> Môi trường) có nghĩa là tăng trưởng kinh tế không làm hại đến môi trường và Tăng trưởng xanh 2 (Môi trường -> Kinh tế) có nghĩa là môi trường được bảo tồn có thể tạo điều kiện tăng trưởng mới cho kinh tế. Tăng trƣởng xanh 1 (Kinh tế -> Môi trƣờng): Tăng trưởng kinh tế mà không làm suy thoái môi trường. Tăng trưởng xanh 1 theo đuổi sự tăng trưởng kinh tế không làm suy thoái môi trường dựa trên việc tối đa hoá hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong khi giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tăng trưởng kinh tế mà không làm suy thoái môi trường là mục tiêu chính sách đã được nhấn mạnh bởi OECD kể từ năm 1990.
Trần Thị Bình Minh- K10 Châu Á học 9 z Vai trò của “tăng trưởng xanh” trong phát triển bền vững và giảm thiểu biến đổi khí hậu của Hàn Quốc, khả năng ứng dụng tại Việt Nam Thực chất ô nhiễm môi trường không tự động giảm khi phát triển kinh tế nhưng nó có thể đạt được với ý chí chính trị của Chính phủ và những nỗ lực đáp ứng nhu cầu của người dân mỗi nước. Tăng trƣởng xanh 2 (Môi trƣờng -> Kinh tế): Tăng trưởng kinh tế mà sử dụng môi trường như một động cơ tăng trưởng mới. Tăng trưởng kinh tế sử dụng công nghệ xanh, các ngành công nghiệp xanh, thân thiện với môi trường. Công nghệ xanh được coi là điểm mấu chốt nhất cho tăng trưởng xanh vì những hiệu quả sinh thái của nó trong sản xuất các sản phẩm, giảm tiêu thụ năng lượng và giảm thiểu các chất ô nhiễm và chất thải trong tiêu thụ sản phẩm.
Định nghĩa “phát triển bền vững” Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa. riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các Trần Thị Bình Minh- K10 Châu Á học 10 z Vai trò của “tăng trưởng xanh” trong phát triển bền vững và giảm thiểu biến đổi khí hậu của Hàn Quốc, khả năng ứng dụng tại Việt Nam thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội.
phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường. Áp dụng “tăng trƣởng xanh” ở một số nƣớc Tăng trưởng xanh đã và đang được hàng loạt các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển đi theo vì tính cần thiết của nó đối với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế của mỗi nước. Điển hình là các nước sau: a. Tăng trƣởng xanh ở các nƣớc trong liên minh châu Âu EU (Anh, Pháp, Đức) Liên minh châu Âu (EU) và các nước thành viên liên tiếp ký kết và tiến hành các dự án phát triển xanh, bảo vệ môi trường, giảm thiểu lượng khí thải CO2.
EU khởi động dự án phát triển kinh tế xanh giai đoạn 2010- 2013, với tổng kinh phí trị giá 3,2 tỷ euro thông qua việc áp dụng công nghệ mới thân thiện với môi trường. Dự án tập trung vào ba lĩnh vực: công nghiệp sản xuất xe hơi và xây dựng; hướng tới áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất, xây dựng và nghiên cứu sản xuất các loại “xe hơi xanh”, với mục tiêu giảm 30% khí thải CO2 trong thời gian tới. Trong khi đó, một dự án sản suất điện từ năng lượng mặt trời có quy mô lớn nhất thế giới tại sa mạc Sahara đã được 10 tập đoàn lớn của châu Âu như ABB Engineering của Thuỵ Điển, Siemens, Deutsche Bank của Đức, Abengoa Solar của Tây Ban Nha…ký kết. Dự án mang tên “Sáng kiến công nghiệp DESERTEC (DII)” có tổng vốn đầu tư 400 tỷ euro.
Dự án có ưu điểm là sản xuất điện năng vô tận, giá thành rẻ và không thải ra khí CO2 ô nhiễm môi trường. Mục tiêu của dự án là 10 năm tới sẽ đưa dòng điện đầu tiên từ sa mạc Sahara hoà lưới điện các nước EU và đến năm 2050 sẽ cung cấp 15% tổng nhu cầu điện của EU. Một phần điện được sản xuất sẽ được ưu tiên dành cho việc chế biến nước biển thành nước ngọt phục vụ sinh hoạt của người dân và hệ thống tưới tiêu nông nghiệp của các nước trong khu vực. Trong giai đoạn đầu của dự án, các tấm pin hấp thụ năng lượng mặt trời sẽ được triển khai lắp đặt tại Morocco, A-rập Xê-út và Jordan.
Nhờ đi đầu trong việc hình thành thị trường các dự án “Cơ chế phát triển sạch” (CDM), châu Âu đang chiếm tới 99% thị phần trong lĩnh vực này.