Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam" được tác giả Lê Minh Hạnh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Thị Thanh Nhàn và TS. Nguyễn Duy Lợi. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9 31 01 06), bảo vệ năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Di chuyển lao động quốc tế là xu thế khách quan mang lại lợi ích cho cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu lao động. Sau khi Cộng đồng ASEAN chính thức thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, việc tự do di chuyển lao động có chuyên môn (skilled labour) được xác định là một trong những trụ cột quan trọng nhằm tạo lập thị trường và cơ sở sản xuất chung. Tổng số lao động di cư của các nước ASEAN ước tính đạt từ 13 đến 15 triệu người (chiếm khoảng 9% tổng lượng lao động di cư toàn cầu), trong đó di chuyển lao động nội khối chiếm 40% (khoảng 5,9 triệu người). Dù vậy, luồng di chuyển lao động có kỹ năng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thể dòng di cư nội khối.
Đối với Việt Nam, quy mô dân số đạt trên 96 triệu người tính đến ngày 01 tháng 4 năm 2019. Năm 2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,8 triệu người, trong đó số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 53,7 triệu người (tương đương gần 98%). Tuy nhiên, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ vào năm 2017 chỉ đạt 21,4% (khu vực thành thị đạt 37,9%, khu vực nông thôn đạt 13,7%). Năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 (tính theo sức mua tương đương PPP năm 2011) đạt 9.894 USD, mức này chỉ bằng 7% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của Indonesia; 56,7% của Philippines và 87,4% của Lào. Những khoảng cách lớn về trình độ kỹ thuật, kỹ năng mềm, ngoại ngữ (tiếng Anh) và năng suất lao động đặt ra yêu cầu phải có một nghiên cứu toàn diện về các cam kết tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), từ đó làm rõ các tác động và đề xuất giải pháp chính sách cho Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là đánh giá thực trạng tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong khu vực ASEAN, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm giúp Việt Nam thực hiện tốt các cam kết, phát huy lợi thế và giảm thiểu rủi ro cho thị trường lao động.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, chỉ ra các kết quả đã đạt được và xác định khoảng trống nghiên cứu.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về lao động có chuyên môn, tự do di chuyển lao động có chuyên môn và các cam kết trong AEC.
- Đánh giá thực trạng tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC.
- Phân tích các cam kết tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn mà Việt Nam tham gia; đánh giá cơ hội và thách thức đối với Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết trong AEC.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn đang diễn ra như thế nào ở các quốc gia thành viên ASEAN? Quá trình này đang diễn ra theo xu hướng nào, những nhân tố nào tác động đến quá trình tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC?
- Câu hỏi 2: Chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn của Việt Nam như thế nào?
- Câu hỏi 3: Việt Nam cần làm gì để thực hiện tốt cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC cũng như tận dụng tốt cơ hội này cho mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của mình?
Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu, tác giả đưa ra 3 giả thuyết:
- Giả thuyết 1: Những quy định về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong khuôn khổ AEC gần giống với các cam kết về di chuyển thể nhân theo phương thức 4 của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và hạn chế hơn rất nhiều về mức độ tự do di chuyển lao động so với quy định trong Liên minh Châu Âu (EU).
- Giả thuyết 2: Việc thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn đang diễn ra chậm chạp ở các quốc gia ASEAN, vì thế dịch chuyển lao động có chuyên môn giữa các quốc gia ASEAN diễn ra với quy mô nhỏ, tốc độ gia tăng tương đối thấp. Việc triển khai chính sách này hiện còn gặp nhiều khó khăn liên quan đến vấn đề nhập cư, đối xử phân biệt với cá nhân cung cấp dịch vụ nước ngoài, sự khác biệt trong hệ thống giáo dục và các vướng mắc trong thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA).
- Giả thuyết 3: Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC, tuy nhiên việc thực hiện chính sách này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và việc thực hiện các cam kết trong AEC của các quốc gia thành viên.
- Phạm vi nội dung: Thực thi chính sách tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC, cơ hội và thách thức đối với thị trường lao động Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Các quốc gia thành viên trong khối ASEAN và mối liên hệ với thị trường Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thực hiện các cam kết về tự do di chuyển lao động từ năm 2006 (khi Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38 ban hành Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC - AEC Blueprint) đến thời điểm nghiên cứu năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm chủ đề chính:
Các công trình nghiên cứu về lao động và thị trường lao động
- Nghiên cứu quốc tế: Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2006) trong cuốn "Thị trường lao động ở châu Á: Các vấn đề và triển vọng" đã nghiên cứu cấu trúc, xu hướng kinh tế vĩ mô và tính linh hoạt của thị trường lao động tại Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Trung Quốc và Việt Nam. Ravi Kanbur và Jan Svejnar (2009) trong "Thị trường lao động và phát triển kinh tế" phân tích vấn đề điều tiết thị trường lao động vĩ mô trong bối cảnh toàn cầu hóa. Báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2013) về nhu cầu việc làm tại EU, Moldova và Ukraine chỉ ra xu hướng tăng trưởng việc làm trình độ cao trong ngành dịch vụ (như tại Séc dự báo việc làm dịch vụ, vận tải tăng 14% giai đoạn 2010–2020 trong khi lao động kỹ năng thấp giảm). Phil Martin và Manolo Abella (2014) cùng Báo cáo Thế giới Việc làm của ILO (2014) dự báo đến năm 2030, các nước công nghiệp sẽ thiếu hụt khoảng 40 triệu lao động tốt nghiệp cao đẳng và 45 triệu lao động có chuyên môn trung bình, trong khi dư thừa 95 triệu lao động chưa tốt nghiệp trung học. Di Gropello và Emanuela (2010) phân tích kỹ năng và vai trò giáo dục tại Philippines.
- Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Quang Hiển (1995) nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển thị trường lao động Việt Nam; Phạm Đức Chính (2006) làm rõ cơ sở lý luận về cung - cầu, tiền lương và bảo hiểm thất nghiệp; Nguyễn Văn Phúc (2007) vận dụng lý thuyết giá trị - lao động của C.Mác để phân tích thị trường sức lao động trình độ cao; Nguyễn Minh Quang (2008) nghiên cứu cung - cầu hàng hóa sức lao động chất lượng cao; Nguyễn Bá Ngọc (2011) định hướng phát triển thị trường lao động giai đoạn 2011–2020; Hoang Van Hung (2013) so sánh năng lực cạnh tranh xuất khẩu lao động Việt Nam với các nước ASEAN tại thị trường Đông Bắc Á.
Các công trình nghiên cứu về di chuyển lao động và thể chế quốc tế
- Báo cáo của ADB và ILO (2014) "Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thị trường chung và việc làm tốt hơn" chỉ ra sự lồng ghép vấn đề lao động giữa ba trụ cột AEC, ASCC và APSC, đồng thời phân tích những khó khăn của thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA).
- Jennee Grace U. Rubrico (2015) so sánh chính sách di chuyển lao động giữa ASEAN và EU, phân tích phương thức 4 của GATS và rào cản trong Thị trường chung Đông và Nam Phi (COMESA).
- Aaditya Mattoo và Antonia Carzzaniga phân tích khuôn khổ pháp lý về sự di chuyển thể nhân cung cấp dịch vụ trong GATS, chỉ ra việc thiếu ranh giới rõ ràng giữa di chuyển tạm thời và định cư vĩnh viễn.
- Các công trình trong nước gồm Nguyễn Bình Giang (2011) về xu hướng di chuyển lao động quốc tế và các hiệp định thương mại khu vực (EU, EFTA, COMESA, ANZCERTA, CARICOM); Phan Huy Đường (2012) về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam giai đoạn 2000–2010; Lê Hồng Huyên (2010) phân biệt xuất khẩu lao động và hiện diện thể nhân theo GATS.
Các công trình nghiên cứu về ASEAN và AEC
- Kishore Mahbubani và Jeffery Sng (2017) với "The ASEAN Miracle: A Catalyst for Peace" phân tích nền tảng Hiến chương ASEAN; Rodolfo C. Severino (2016) đánh giá tiến trình xây dựng cộng đồng; Kiyoshi Kobayashi và cộng sự (2018) chỉ rõ khoảng cách phát triển và năng suất lao động giữa các thành viên; Kiki Verico (2017) đánh giá tương lai hội nhập kinh tế khối.
- Các tác giả Việt Nam như Nguyễn Văn Hà (2013, 2018), Nguyễn Duy Dũng (2018), Nguyễn Hồng Sơn (2009), Nguyễn Thành Trì (2010), Phạm Thị Thanh Bình (2009) đã phân tích nội dung, lộ trình thực hiện AEC, cơ chế giải quyết tranh chấp và tác động đối với Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC
- Aniceto C. Orbeta Jr. (2012), Chia S. (2011), ILO (2015), Guntur Sugiyarto và Dovelyn Rannveig Agunias (2014), Yoshifumi Fukunaga (2015), Sukti Dasgupta và Sanchita Basu Das (2014) phân tích các MRA ngành nghề, tính chất hạn chế của AEC so với Mode 4 GATS và rào cản chính sách quốc gia.
- Đinh Văn Tới phân tích tác động của AEC tới cầu lao động Việt Nam; Mạc Văn Tiến phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nhân lực Việt Nam; Phạm Thị Lý (2015) và Bùi Thị Minh Tiệp (2015) nghiên cứu cơ hội, thách thức và độ sẵn sàng của lao động Việt Nam; Đào Thị Thu Trang (2015) nghiên cứu sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối; Nguyễn Ngọc Lan (2016, 2018) nghiên cứu các nhân tố tác động đến di chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về AEC và thị trường lao động, các công trình trước đây còn bỏ ngỏ những vấn đề thực tiễn cụ thể:
- Đánh giá toàn diện tiến độ thực thi cam kết tự do di chuyển lao động có chuyên môn của từng quốc gia ASEAN sau khi AEC chính thức vận hành.
- Phân tích đa chiều các tác động kinh tế, xã hội, pháp lý và an ninh đối với thị trường lao động Việt Nam khi mở cửa cho lao động chuyên môn nội khối.
- Đánh giá mức độ tham gia thực tế của Việt Nam và đề xuất các giải pháp khả thi giúp người lao động trong nước vừa tận dụng cơ hội di chuyển, vừa giảm thiểu rủi ro cạnh tranh trên sân nhà.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm và khung phân tích
- Lao động: Được luận án tiếp cận theo góc độ kinh tế học, là người lao động tạo ra và cung cấp dịch vụ lao động, là chủ thể nắm giữ sức lao động.
- Lao động có chuyên môn: Là lực lượng lao động sở hữu kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội và hành vi phù hợp với yêu cầu ngành nghề cụ thể. Luận án xác lập 3 nhóm tiêu chuẩn đánh giá:
- Kỹ năng kỹ thuật: Kiến thức chuyên môn và năng lực thực thi công việc cụ thể.
- Kỹ năng nhận thức: Tư duy logic, giải quyết vấn đề, đọc, viết, tính toán và phân tích.
- Kỹ năng xã hội và hành vi: Tố chất cá nhân, đạo đức làm việc, kỷ luật tuân thủ hợp đồng, làm việc nhóm, năng lực ngoại ngữ và hiểu biết văn hóa nước sở tại.
- Di chuyển lao động quốc tế: Là sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác để làm việc. Luận án phân loại theo các tiêu thức:
- Theo thời gian: Di chuyển ngắn hạn/tạm thời (dưới 1 năm, bao gồm lao động mùa vụ, con lắc) và di chuyển dài hạn (từ 1 năm trở lên).
- Theo điều kiện pháp lý: Di chuyển hợp pháp và di chuyển trái phép (không đủ giấy tờ, ở lại quá hạn, vi phạm thị thực).
- Theo trình độ: Lao động có chuyên môn (tốt nghiệp cao đẳng, đại học hoặc tương đương) và lao động chuyên môn thấp/bán lành nghề/phổ thông.
- Theo phương thức: Xuất khẩu lao động (thực hiện hợp đồng cung ứng lao động) và di chuyển thể nhân cung cấp dịch vụ (phương thức 4 của GATS, người lao động tự làm chủ hoặc đại diện doanh nghiệp cung cấp dịch vụ).
- Tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn: Hoạt động của các quốc gia trong việc ký kết, gia nhập, phê chuẩn và thực hiện các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau nhằm tạo thuận lợi cho lao động có trình độ dịch chuyển xuyên biên giới.
Cơ sở lý thuyết kinh tế và xã hội học
Luận án vận dụng các lý thuyết kinh điển và hiện đại về di cư:
- Quy luật di dân của E.G. Ravenstein (1880s): Xác lập mối quan hệ giữa di dân với quy mô dân số, khoảng cách, và khẳng định động cơ kinh tế (mong muốn cải thiện điều kiện vật chất) là nhân tố quyết định nhất, chịu sự điều tiết của các yếu tố trung gian.
- Lý thuyết Lực hút - Lực đẩy của Everett S. Lee: Chỉ ra các yếu tố "đẩy" tại nơi xuất cư (dư thừa lao động nông thôn, chiến tranh, dịch bệnh) và các yếu tố "kéo" tại nơi nhập cư (cơ hội việc làm, mức sống, tiền lương cao), cùng các trở ngại trung gian (chi phí vận chuyển, rào cản luật định).
- Mô hình Hai khu vực của W. Arthur Lewis (1954): Giải thích sự chuyển dịch từ khu vực nông nghiệp truyền thống (năng suất cận biên xấp xỉ bằng không, dư thừa lao động) sang khu vực công nghiệp thành thị hiện đại (năng suất cao, nhu cầu bổ sung lao động lớn).
- Mô hình Thu nhập kỳ vọng của Todaro và Harris: Giải thích việc di chuyển lao động dựa trên chênh lệch giữa thu nhập kỳ vọng tại đô thị và thu nhập thực tế tại nông thôn, ngay cả khi khu vực đô thị tồn tại tỷ lệ thất nghiệp cao.
- Lý thuyết Thị trường lao động kép (Michael Piore, 1979): Phân chia thị trường thành phân khúc chính yếu (vốn lớn, công nghệ cao, lương cao, vị thế tốt) và phân khúc thứ yếu (thâm dụng lao động, nặng nhọc, lương thấp). Nhu cầu thu hút lao động nhập cư chủ yếu xuất phát từ nhu cầu lấp đầy vị trí ở đáy bậc thang việc làm thuộc phân khúc thứ yếu.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG PHÂN TÍCH DI CHUYỂN LAO ĐỘNG |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| [ĐỘNG LỰC ĐẨY] [ĐỘNG LỰC KÉO] |
| - Thu nhập thấp, thiếu việc làm - Thu nhập kỳ vọng |
| - Năng suất lao động thấp - Cơ hội việc làm |
| - Dư thừa lao động nông thôn - Chuyển giao CN |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| RÀO CẢN VÀ YẾU TỐ TRUNG GIAN |
| - Rào cản pháp lý & thể chế (Visa, Giấy phép lao động, Quy định nhập cư) |
| - Rào cản kỹ thuật & chuyên môn (Tiêu chuẩn kiểm định, MRA, AQRF) |
| - Rào cản văn hóa, ngôn ngữ (Tiếng Anh, ngôn ngữ bản địa), chi phí dịch chuyển |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| KẾT QUẢ THỰC THI CAM KẾT AEC & TÁC ĐỘNG TẠI VIỆT NAM |
| - Tác động kinh tế: Năng suất, dịch chuyển cơ cấu, chuyển giao công nghệ |
| - Tác động xã hội: Cạnh tranh việc làm trong nước, nguy cơ "chảy máu chất xám" |
| - Hàm ý chính sách: Hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích hiện tượng trong bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị cụ thể.
- Cách tiếp cận: Luận án phối hợp 4 hướng tiếp cận:
- Tiếp cận tổng thể, toàn diện.
- Tiếp cận thực tiễn.
- Tiếp cận hệ thống (đặt vấn đề lao động trong tổng thể 3 trụ cột AEC, ASCC, APSC).
- Tiếp cận động, liên ngành dựa trên nguyên lý quản trị nguồn nhân lực.
- Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp khái quát hóa và cụ thể hóa.
- Phương pháp thống kê - so sánh (đối chiếu dữ liệu lao động, năng suất giữa các quốc gia ASEAN).
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp (từ Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ILO, ADB, Ban Thư ký ASEAN).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến 4 mảng: thị trường lao động, di chuyển lao động quốc tế, tiến trình xây dựng AEC và tự do hóa lao động có chuyên môn trong AEC. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây đã làm rõ xu hướng toàn cầu hóa lao động nhưng chưa đánh giá thấu đáo quá trình thực thi cam kết sau mốc 2015 của các nước ASEAN, nhất là các rào cản phi thuế quan và cơ chế kiểm soát của từng nước. Từ đó, chương xác lập tính cấp thiết của đề tài, 3 câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết tương ứng.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong một cộng đồng kinh tế khu vực
Chương 2 hoàn thiện khung lý thuyết của luận án:
- Làm rõ khái niệm lao động có chuyên môn dựa trên 3 nhóm tiêu chí (kỹ thuật, nhận thức, xã hội - hành vi) và phân biệt các hình thức di chuyển lao động quốc tế.
- Phân tích các yếu tố kinh tế (Ravenstein, Lee, Lewis, Todaro-Harris, Piore) và phi kinh tế (gia đình, văn hóa, chính trị, ngôn ngữ, rào cản hành chính) tác động đến dịch chuyển lao động.
- Khảo cứu kinh nghiệm thế giới: Phân tích cơ chế tự do di chuyển lao động trong Liên minh Châu Âu (EU - quy định từ 2007 cho phép di chuyển tự do như một quyền công dân cơ bản, sau 5 năm làm việc có thể xin quốc tịch); Hiệp định COMESA (thị trường chung Đông và Nam Phi với các trở ngại lớn về thị thực và phân biệt đối xử); Hiệp định NAFTA; và cam kết theo Phương thức 4 của GATS/WTO (chỉ giới hạn ở di chuyển tạm thời của thể nhân cung cấp dịch vụ).
| Hình thức di chuyển |
Căn cứ pháp lý |
Phạm vi đối tượng |
Mức độ tự do / Quyền cư trú |
| Liên minh Châu Âu (EU) |
Quy chế nội khối EU |
Mọi đối tượng lao động (kỹ năng cao, trung bình, thấp) |
Tự do hoàn toàn; quyền cư trú dài hạn; sau 5 năm có thể thành công dân sở tại |
| COMESA |
Hiệp ước COMESA |
Lao động giữa các nước thành viên Đông và Nam Phi |
Quy định tự do nhưng gặp rào cản lớn về thị thực và bảo hộ nội địa |
| GATS (Mode 4) |
Khung WTO |
Thể nhân cung cấp dịch vụ độc lập, nhân sự nội bộ |
Tạm thời; phụ thuộc vào cam kết mở cửa ngành của từng quốc gia |
| AEC (ASEAN) |
MRA (8 ngành), MNP, AQRF |
Chỉ áp dụng cho lao động có chuyên môn thuộc 8 lĩnh vực MRA |
Có điều kiện; phải qua sát hạch nội địa, cấp phép hành nghề, không tự do cư trú |
Chương 3: Thực trạng tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 3 đi sâu phân tích thực trạng triển khai chính sách trong nội khối ASEAN:
- Phân tích quá trình hình thành AEC, tiến độ triển khai Kế hoạch tổng thể AEC và sự phát triển của các luồng di cư.
- Làm rõ cơ sở pháp lý của AEC trong lĩnh vực lao động: Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF), Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân (MNP), và 8 Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong 8 lĩnh vực nghề nghiệp: dịch vụ kỹ thuật (kỹ sư), kiến trúc, điều dưỡng, bác sĩ y khoa, nha sĩ, kế toán, kiểm toán và nhân viên du lịch.
- Tổng hợp số liệu triển khai: Số lượng kỹ sư và kiến trúc sư đăng ký tại Ủy ban Điều phối Kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN (ACPECC) và Hội đồng Kiến trúc sư ASEAN (AAC) tính đến tháng 4 năm 2018 còn rất khiêm tốn so với tổng quy mô lao động toàn khối.
| Quốc gia thành viên ASEAN |
Năng suất lao động năm 2016 (USD theo PPP 2011) |
So sánh tương đối với Việt Nam (%) |
| Singapore |
~141.343 |
1.428,5% (Việt Nam bằng 7,0%) |
| Malaysia |
~56.216 |
568,2% (Việt Nam bằng 17,6%) |
| Thái Lan |
~27.107 |
274,0% (Việt Nam bằng 36,5%) |
| Indonesia |
~23.390 |
236,4% (Việt Nam bằng 42,3%) |
| Philippines |
~17.450 |
176,4% (Việt Nam bằng 56,7%) |
| Lào |
~11.320 |
114,4% (Việt Nam bằng 87,4%) |
| Việt Nam |
9.894 |
100,0% |
- Đánh giá tồn tại và nguyên nhân: Tự do hóa di chuyển lao động trong ASEAN vẫn mang tính chất có kiểm soát, chậm chạp. Nguyên nhân gồm:
- Các rào cản kỹ thuật nội địa: Yêu cầu chứng chỉ hành nghề quốc gia, kinh nghiệm thực tế tại chỗ, và rào cản ngôn ngữ bản địa (như Thái Lan yêu cầu bác sĩ nhập cư phải sử dụng thành thạo tiếng Thái).
- Quy định bảo vệ thị trường lao động trong nước: Nhiều nước dành riêng các vị trí giáo viên, luật sư, công chức cho công dân bản địa.
- Khoảng cách phát triển và chênh lệch hệ thống giáo dục - đào tạo giữa các nhóm nước ASEAN-6 và CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam).
Chương 4: Những vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách cho Việt Nam thực hiện tốt tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 4 tập trung vào thực tiễn Việt Nam:
- Các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đặt ra: Vấn đề cạnh tranh việc làm tại các phân khúc chất lượng cao; nguy cơ "chảy máu chất xám" (lao động giỏi chuyển dịch sang Singapore, Malaysia, Thái Lan); các tác động quản lý an ninh, trật tự xã hội và hội nhập văn hóa doanh nghiệp.
- Cơ hội đối với Việt Nam: Mở rộng thị trường việc làm ngoài nước cho lao động có kỹ năng; nâng cao tiền lương và thu nhập; tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại thông qua dòng chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam; thúc đẩy cải cách hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo chuẩn khu vực.
- Thách thức đối với Việt Nam: Lao động Việt Nam có tỷ lệ qua đào tạo thấp (21,4% năm 2017); năng suất lao động thuộc nhóm thấp trong khu vực; thiếu hụt cả kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng mềm (ngoại ngữ tiếng Anh, tin học, tác phong công nghiệp, làm việc nhóm); nguy cơ thua thiệt ngay trên thị trường nội địa khi lao động chuyên môn từ các nước ASEAN dịch chuyển sang Việt Nam.
- Hàm ý và giải pháp chính sách:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý: Rà soát, đồng bộ hóa Luật Lao động, Luật Việc làm và các quy định quản lý lao động nước ngoài phù hợp với các cam kết MRA, MNP và Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF).
- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực: Đổi mới giáo trình theo chuẩn quốc tế, đẩy mạnh đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng mềm và kỹ năng số; gắn kết cơ sở đào tạo với doanh nghiệp.
- Tăng cường thông tin thị trường lao động: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dự báo cung - cầu lao động có chuyên môn, công khai các tiêu chuẩn và thủ tục cấp phép hành nghề nội khối.
- Bảo vệ quyền lợi người lao động và bảo đảm an ninh: Xây dựng cơ chế hỗ trợ pháp lý cho lao động chuyên môn Việt Nam ra nước ngoài và kiểm soát chặt chẽ lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam theo đúng quy định pháp luật.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn
- Thứ nhất: Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong một cộng đồng kinh tế khu vực; phân tích chi tiết các quy định, cam kết trong AEC (các MRA, MNP, AQRF) và so sánh đối chiếu với mô hình của EU, COMESA và GATS.
- Thứ hai: Luận án đánh giá toàn diện thực trạng các dòng dịch chuyển lao động có chuyên môn nội khối ASEAN; chỉ ra các rào cản kỹ thuật, pháp lý, ngôn ngữ và sự bảo hộ của từng quốc gia thành viên khiến tốc độ thực thi cam kết còn chậm chạp.
- Thứ ba: Luận án phân tích sâu thực trạng và tác động của các cam kết AEC đối với thị trường lao động Việt Nam; chỉ rõ sự chênh lệch lớn về năng suất lao động và tỷ lệ đào tạo có bằng cấp, từ đó chỉ ra những rủi ro cạnh tranh việc làm ngay tại thị trường nội địa.
- Thứ tư: Đề xuất hệ thống giải pháp và hàm ý chính sách khả thi, đồng bộ cho Việt Nam nhằm tận dụng cơ hội phát triển kinh tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đồng thời bảo vệ an ninh trật tự và hạn chế rủi ro mất nguồn nhân lực chất lượng cao.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất
- Đề nghị Chính phủ và các bộ ngành liên quan (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nhanh chóng hoàn thiện tiêu chuẩn nghề quốc gia tương thích với AQRF.
- Tăng cường phối hợp với các hiệp hội nghề nghiệp (Hội đồng Kiến trúc sư, Ủy ban Kỹ sư) để chuẩn hóa quy trình cấp chứng chỉ hành nghề tương đương trong khu vực.
- Tăng cường đầu tư nguồn lực cho hệ thống trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng thực hành và trình độ tiếng Anh cho người học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Nguồn số liệu nghiên cứu phụ thuộc chủ yếu vào các báo cáo thứ cấp và niên giám thống kê đã công bố tính đến năm 2018–2019; số liệu thống kê chi tiết về từng luồng di chuyển lao động theo từng ngành trong số 8 ngành MRA tại một số quốc gia ASEAN chưa thực sự đầy đủ do sự khác biệt trong hệ thống báo cáo của các nước thành viên. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở nhóm lao động có chuyên môn theo các cam kết chính thức, chưa bao quát toàn bộ các dòng lao động phi chính thức và lao động phổ thông.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi, đánh giá định lượng tác động của Kế hoạch tổng thể AEC giai đoạn sau năm 2020; mở rộng nghiên cứu sang việc công nhận kỹ năng đối với các nhóm ngành nghề kỹ thuật tầm trung và các phương thức làm việc trực tuyến, dịch chuyển lao động số trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp trong việc rà soát, sửa đổi quy định pháp luật về lao động nước ngoài, đàm phán các thỏa thuận công nhận lẫn nhau và quản lý thị trường lao động.
- Các hiệp hội ngành nghề và cơ sở giáo dục: Cung cấp tiêu chí tham chiếu cho các trường đại học, viện đào tạo nghề trong việc cải tiến chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra theo chuẩn kỹ năng ASEAN, đặc biệt trong 8 ngành thuộc diện MRA.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy các học phần Kinh tế quốc tế, Quản trị nguồn nhân lực quốc tế, Hội nhập kinh tế khu vực và Quan hệ quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC bao gồm những ngành nghề cụ thể nào?
ASEAN đã ký kết 8 Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) đối với 8 ngành nghề/lĩnh vực: dịch vụ kỹ thuật (kỹ sư), kiến trúc, điều dưỡng, bác sĩ y khoa, nha sĩ, kế toán, kiểm toán và nhân viên du lịch.
2. Mức độ tự do di chuyển lao động trong AEC khác biệt như thế nào so với Liên minh Châu Âu (EU)?
Trong EU, tự do di chuyển lao động là quyền cơ bản áp dụng cho mọi đối tượng lao động (từ phổ thông đến trình độ cao), đi kèm quyền cư trú dài hạn và cơ hội nhập quốc tịch sau 5 năm. Trong AEC, việc tự do di chuyển chỉ áp dụng cho lao động có chuyên môn thuộc 8 lĩnh vực MRA, dựa trên phương thức di chuyển thể nhân có thời hạn (Mode 4 GATS), không đi kèm quyền định cư vĩnh viễn và người lao động vẫn phải vượt qua các rào cản sát hạch, cấp phép hành nghề nội địa của nước sở tại.
3. Số liệu về tỷ lệ lao động qua đào tạo và năng suất lao động của Việt Nam được luận án nêu như thế nào?
Năm 2017, chỉ có 21,4% lực lượng lao động Việt Nam từ 15 tuổi trở lên được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ (thành thị đạt 37,9%, nông thôn đạt 13,7%). Về năng suất lao động, năm 2016 theo sức mua tương đương PPP 2011, Việt Nam đạt 9.894 USD, bằng 7% của Singapore, 17,6% của Malaysia, 36,5% của Thái Lan, 42,3% của Indonesia, 56,7% của Philippines và 87,4% của Lào.
4. Đâu là những rào cản kỹ thuật chính khiến việc di chuyển lao động chuyên môn trong ASEAN còn chậm chạp?
Các rào cản kỹ thuật chính gồm: sự thiếu thống nhất trong hệ thống giáo dục và kiểm định chứng chỉ nghề nghiệp; các điều kiện kiểm tra sát hạch nghiêm ngặt của hiệp hội chuyên môn nội địa; yêu cầu thông thạo ngôn ngữ bản địa (như tiếng Thái đối với ngành y tại Thái Lan); và các quy định bảo hộ việc làm nội địa dành riêng các vị trí quan trọng cho công dân nước sở tại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Minh Hạnh đã làm rõ cơ sở lý luận, phương pháp luận và thực trạng triển khai chính sách tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Nghiên cứu khẳng định rằng dù AEC mở ra khung pháp lý quan trọng thông qua các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA), việc thực thi trên thực tế vẫn diễn ra có kiểm soát và đối mặt với nhiều rào cản thể chế nội địa. Trước những hạn chế về tỷ lệ lao động qua đào tạo và năng suất lao động, công trình đã cung cấp hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ giúp Việt Nam chủ động thích ứng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tham gia hiệu quả vào thị trường lao động khu vực.