Chương 1 Khái quát chung về chứng khoán, phân tích và định giá cổ phiếu. Chương 2 Tổng quan Công ty cô phân tập đoàn Hòa Phát. Chương 3 Thực trạng ngành thép và Công ty cổ phan tập đoàn Hòa phát trong năm 2020 Chương 4 Định giá cô phiếu HPG - đánh giá giá trị Công ty cô phần tập đoàn Hòa Phát. Chương 5 Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong đầu tư cô phiếu HPG 11171193 — Nguyễn Trường Giang | 6 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế LỜI CÁM ƠN Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ bảo nhiệt tình của thay cô trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp.
Em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn tới thầy Đào Bùi Kiên Trung, thầy là người đã dạy em học phần Phân tích kỹ thuật và là người hướng dẫn em hoan thành bài chuyên dé tốt nghiệp này. Thay cũng là TƯỜI đã truyền cảm hứng cho em về những kiến thức đầu tư, giúp em nâng cao kiến thức cũng như hướng dẫn em trở thành con người trưởng thành hơn trong quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Toán Kinh Tế trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã dạy dé và chỉ bảo em tận tình trong quá trình học tập, giúp em có một nền tảng kinh tế vững chắc dé có thể tiếp bước trên con đường sự nghiệp trong tương lai. Nhưng với kinh nghiệm ít ỏi cũng như nền kiến thức hạn ché, bài chuyên đề tốt nghiệp này của em còn nhiều thiếu sót.
Kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô dé em có thé bé sung, nâng cao kiến thức và hoàn thiện ban thân mình hơn. Em xin chân thành cảm ơn! 11171193 — Nguyễn Trường Giang | 7 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế CHUONG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE CHUNG KHOÁN, PHAN TÍCH VÀ ĐỊNH GIA CO PHIẾU.1 Khái quát chung về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Chứng khoán là gì? Chứng khoán là chứng từ có giá dài hạn hoặc bút toán ghỉ sỐ xác nhận các quyền, lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn hoặc tài sản của tổ chức phát hành. Chứng khoán là hàng hóa của thị trường chứng khoán.
Chứng khoán có giá là hình thức biéu hiên của tư bản giả, bản thân không có giá trị độc lập, là những bản sao bang giấy tờ của tư bản thực. Những chứng khoán có giá mang lại thu nhập cho người sở hữu nên nó cũng là đối tượng mua bán và có giá cả. Thông thường trên chứng khoán có giá không ghi tên người sở hữu, do đó, có thé chuyên nhượng tự do từ người này sang người khác mà không cần có chữ kí của người chuyền nhượng. Trong lịch sử phát triển thị trường chứng khoán, lúc đầu chứng khoán đượcin băng giấy nhưng dan dan được thê hiện dưới hình thức phi vat thé thông qua nghiệp vụ ghi chép kế toán bằng phương tiện điện tử.
Chứng khoán có các thuộc tính sau: thứ nhất, chứng khoán có tính thanh khoản, nghĩa là chứng khoán có thé được chuyền đổi thành tiền mặt; thứ hai, chứng khoán có tính sinh lời, nghĩa là chứng khoán có khả năng tạo thu nhập cho chủ sở hữu; thứ ba, chứng khoán có tính rủi ro, nghĩa là việc sở hữu, mua bán chứng khoán có thé làm giảm thu nhập của chủ sở hữu. Quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với vốn hoặc tài sản của tô chức phát hành phụ thuộc vào loại chứng khoán. Người sở hữu cô phiếu vừa có quyền hưởng lợi vừa có quyền sở hữu chủ đối với tô chức phát hành còn người sở hữu trái phiếu chỉ có quyền hưởng lợi (thu nhập) từ tổ chức phát hành. Chứng khoán phát hành ra công chúng có thể ghi danh (có ghi tên người sở hữu) hoặc vô danh (không ghi tên người sở hữu).
Thi trường chứng khoán là gì? Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở đó người ta mua bán, chuyên nhượng, trao đôi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Thị trường chứng khoản trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài han. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp kh có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, Xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyên nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thé năm giữ chứng khoán.
Phân loại thị trường chứng khoán Theo tổ chức giao dịch: Thị trường chứng khoán tập trung — các hoạt động mua bán chứng khoán được thực hiện theo các quy định đặt bởi sàn. Trên thị trường này chỉ có cổ phiêu các của 11171193 — Nguyễn Trường Giang | 8 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế các công ty đã qua niêm yết. Hình thái điền hình của thị trường chứng khoán tập trung là Sở giao dịch chứng khoán. Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, đây sẽ là nơi giao dịch và khớplệnh, quản lý lệnh từ phía các nhà đầu tư và những người có nhu cầu mua và bán cô phiếu.
Các lệnh được chuyên tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình khớp lệnh từ đó hình thành nên giá giao dịch. Thị trường chứng khoán phi tập trung hay còn được gọi là thị trường OTC (Over The Counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán trên khắp quốc gia và được kết nối với nhau bằng mạng điện tử. Các điều kiện hợp đồng được thỏa thuận giữa bên mua và bên bán.
Trên thị trường này có cô phiếu của các công ty không qua hoặc không muốn niêm yết trên sàn. Theo các giai đoạn phát hành và lưu thông trong chứng khoán: Thị trường sơ câp: là thị trường diễn ra sự mua bán những cô phiếu phát hành lần đầu, có thê gọi cách khác nữa là Thị trường phát hành chứng khoán. Phát hành cô phiếu có thé công khai hoặc không công khai. Trong trường hợp không công khai các cô phiếu đưuọc mua bởi số lượng người nhất định, không công bồ thông tin tài chính.
Trong trường hợp công khai, việc phát hành cô phiếu thông qua trung gian với các chỉ sô tài chính được công bố. Vốn từ nha dau tư sẽ được chuyên sang nha phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chúng khoán mới phát hành. Thị trường thứ cấp: là nơi gia dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ câp. Chứng khoán giao dịch trên thị trường này được mua đi bán lại nhiều lần với với giá cả cao thấp, tùy thuộc vào quan hệcung câu và nhiều nhân tố khác.
Trong thị trường thứ cap, những ai có vốn nhàn rỗi tạm thời có thé yên tâm đầu tư vào các khoản khác, bời khi có nhục cầu có thé bán lại các chúng khoán cho các nhà đầu tư khác. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Thành viên chủ yêu của thị trường này là các nhà đầu cơm kiếm tiền dựa trên chênh lệch giá mua và bán cô phiếu. Vai trò của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trong trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tê quôc dân ngày nay, thị trường chứng khoán giúp huy động và sử dụng nguồn vốn hiệu quả. Vốn của chính phủ được huy động thông qua việc bán trái phiếu đề đầu tư vào các dựán của nhà nước. Thị trường chứng khoán góp phần giúp chính phủ thực hiện các chính sách tiền tệ hiệu quả qua việc mua bán trái phiếu nhằm điều chỉnh sự tăng giảm của lãi thị trường. Thị trường chứng khoán giúp bán cô phiếu ra nước ngoài giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Thị trường chứng khoán cũng là một giải pháp giúp huy động vốn kinh doanh hiệu quả cho các doanh nghiệp thông qua việc bán trái phiếu hoặc cô phiếu cho các nhà đầu tư. Nhờ đó mà doanh nghiệp không cần phải đi vay vốn trả lãi cao cho ngân hàng, mà còn tạo ra được tính thanh khoản linh động cho công ty. Thông qua chỉ sô giá trên thị trường, những con số thể hiện chính xác và tổng quát các giá trị hữu hình và vô hình của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. 11171193 — Nguyễn Trường Giang | 9 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế Noi đây còn cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn đầu tư đa dang và tối thiểu hóa các rủi ro trong đầu tư.
Qua đó, các nhà đầu tư có thé dé dàng tim được cho mình một doanh nghiệp phù hợp với mình dé góp vén đầu tư.2 Khái quát về phân tích cơ bản Phân tích và định giá cô phiếu (phân tích cơ bản) là phương pháp phân tích cô phiếu dựa vào các nhân tố mang tính chất nền tảng có tác động hoặc dẫn tới sự thay đổi giá cả của cô phiếu nhằm chỉ ra giá trị thực của cô phiếu trên thị trường. Phương pháp này là một kỹ thuật dung dé xác định giá trị thực của một doanh nghiệp trên sàn giao dịch chứng khoán, băng cách tập trung vào các yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp. Nhìn một cách tổng quát, ta có thê tiến hành phân tích cơ bản dé phân tích tông quan về ngành kinh doanh hoặc nên kinh tế nói chung. Một cách đơn giản phân tích cơ bản thiên vê phân tích tài chính lành mạnh về mặt kinh tế của một thực thé tài chính hơn là phân tích sự giao động về giá của cô phiếu trên thị trường chứng khoán.
Sự chênh lệch của giá trị thị trường so với giá trị thực của một cô phiếu chính là cơ hội dé đầu tư. Phân tích cơ bản dựa trên những giả định sau: 1) Mối quan hệ giữa giá trị và các yêu tố tài chính là có thé đo lường được. 2) Mối quan hệ này ôn định trong một khoảng thời gian đủ dài. 3) Các sai lệch của mối quan hệ sẽ đưuọc điều chỉnh lại vào thời điểm thích hợp.
Giá trị là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản.