Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9.13) của nghiên cứu sinh Phan Thị Lệ Dung, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Am tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2020, nghiên cứu đề tài: "Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức (Hà Tây) từ năm 1991 đến năm 2008".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ luận điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong công cuộc đổi mới của Việt Nam từ năm 1986, cấp huyện được xác định là địa bàn quan trọng để củng cố tiềm lực kinh tế địa phương và cả nước. Huyện Mỹ Đức là vùng đất bán sơn địa nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hà Tây (cũ), có vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi. Tháng 10 năm 1991, sau khi Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, huyện Mỹ Đức trực thuộc tỉnh Hà Tây cho đến tháng 8 năm 2008 khi toàn bộ tỉnh Hà Tây sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội. Tác giả chỉ ra rằng dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội cả nước hoặc tỉnh Hà Tây, nhưng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về sự chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức trong toàn bộ giai đoạn 1991 - 2008.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Làm rõ bối cảnh lịch sử và những yếu tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức từ năm 1991 đến năm 2008.
- Trình bày những chuyển biến về kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức từ năm 1991 đến năm 2008 trên các nội dung cơ bản.
- Rút ra một số nhận xét, đánh giá về đặc điểm chuyển biến kinh tế, xã hội, phân tích tiềm năng, xu hướng và những vấn đề tiếp tục đặt ra, góp phần làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho các cấp lãnh đạo hoạch định chủ trương phát triển địa phương trong các giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích điều kiện tự nhiên, cơ sở kinh tế, dân cư và truyền thống lịch sử để làm rõ các yếu tố tác động đến sự chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức (1991 - 2008).
- Tái hiện trung thực, có hệ thống chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức giai đoạn 1991 - 2008; làm rõ thành tựu, hạn chế và lý giải nguyên nhân.
- Nêu lên một số đặc điểm của sự chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức làm tài liệu tham khảo cho quá trình phát triển địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức (Hà Tây) từ năm 1991 đến năm 2008.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa giới hành chính huyện Mỹ Đức thời kỳ 1991 - 2008 thuộc tỉnh Hà Tây, gồm 01 thị trấn Đại Nghĩa (Tế Tiêu) và 21 xã: Phúc Lâm, Mỹ Thành, Đốc Tín, Vạn Kim, Đồng Tâm, Thượng Lâm, Tuy Lai, Bột Xuyên, An Mỹ, Hồng Sơn, Lê Thanh, Xuy Xá, Phùng Xá, Hợp Tiến, Phù Lưu Tế, Hợp Thanh, Đại Hưng, An Tiến, An Phú, Hùng Tiến, Hương Sơn.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2008, chia làm 2 giai đoạn: 1991 - 1996 (thời kỳ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội) và 1996 - 2008 (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến khi sáp nhập vào Hà Nội). Luận án cũng mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1991 và so sánh với một số địa phương lân cận để phục vụ đối chiếu lịch sử.
- Phạm vi nội dung: Về kinh tế, tập trung vào cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng kinh tế. Về xã hội, tập trung vào biến đổi dân số, lao động - việc làm, xóa đói giảm nghèo, đời sống văn hóa - giáo dục - y tế và công tác trợ giúp các đối tượng chính sách.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân chia các công trình nghiên cứu liên quan thành hai nhóm chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới:
- Về đường lối đổi mới và tư duy kinh tế của Đảng: Tác phẩm của Trường Chinh (1987), Đổi mới đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại, Nxb Sự Thật; Nguyễn Văn Thường (2007), Một số vấn đề kinh tế - xã hội sau 20 năm đổi mới ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội; Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Lê Ngọc Tòng (2005), Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng (1986-2005), Nxb Lý luận chính trị; Lê Quang Phi chủ biên (2007), Đổi mới tư duy lý luận của Đảng về CNH, HĐH ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia; Nguyễn Duy Quý (2009), Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội; Nguyễn Ngọc Hà (2012), Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986-2011), Nxb Chính trị - Sự thật.
- Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Phan Thanh Phố (1996), Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam, Nxb Giáo Dục; Nguyễn Văn Khanh (2003), Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia; Vũ Hồng Tiến (2005), Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội; Đỗ Hoài Nam chủ biên (1993), Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia; Vũ Đình Bách chủ biên (2001), Đổi mới tăng cường các thành phần kinh tế nhà nước: lý luận, chính sách và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia; luận án tiến sĩ của Phạm Thị Lương Diệu (2012), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến năm 2005; Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển mũi nhọn, Nxb Khoa học xã hội.
- Về kinh tế vùng và phát triển bền vững: Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú đồng chủ biên (2006), Phát triển kinh tế vùng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia; Lê Thu Hoa (2007), Kinh tế vùng ở Việt Nam - từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Lao động xã hội; Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng (2003), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia; Đỗ Thị Thanh Loan (2016), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật; Phạm Thị Khanh chủ biên (2010), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia.
- Về chuyển biến xã hội và chính sách xã hội: Trần Nguyễn Tuyên (2010), Gắn kết tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội, Nxb Chính trị quốc gia; Đỗ Nguyên Phương và Trần Xuân Kiên (2010), Cơ cấu xã hội Việt Nam và những vấn đề xã hội bức xúc trong quá trình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật; Nguyễn Văn Mạnh chủ biên (2010), Vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Thọ Khang và Bùi Thị Kim Hậu, Giải quyết những vấn đề kinh tế và xã hội ở Việt Nam cấp bách hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật; Nguyễn Đình Lê chủ biên (2017), Một số vấn đề biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam (1986 – 2000), Nxb Khoa học xã hội.
- Các luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng: Phạm Đức Kiên (2011) về kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện chính sách xã hội (1991 - 2006); Lê Nhị Hòa (2012) về kết hợp kinh tế với quốc phòng tại Tây Nguyên; Lê Quang Phi (2012) về lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (1991 - 2002).
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về tỉnh Hà Tây và huyện Mỹ Đức:
- Chi cục Thống kê Hà Tây (1973), 4 năm xây dựng kinh tế văn hóa của tỉnh Hà Tây (1969 - 1972); tập sách Hà Tây thế và lực mới trong thế kỷ XXI (Nxb Chính trị quốc gia, 2004); Đặng Văn Tu và Nguyễn Tá Nhí đồng chủ biên (2011), Địa chí Hà Tây, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây.
- Các bài viết và sách chuyên đề: Khuất Hữu Sơn (2000), "Hà Tây 10 năm xây dựng và phát triển kinh tế xã hội"; Nguyễn Công Tít (2000), "Nông nghiệp Hà Tây 10 năm đổi mới"; các ấn phẩm của Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây về làng nghề, di tích và văn hóa (1994, 1999, 2005).
- Các luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu về Hà Tây: Lê Mạnh Hùng (2005) về tiểu thủ công nghiệp nông thôn Hà Tây; Đỗ Quang Dũng (2006) về phát triển làng nghề trong công nghiệp hóa nông nghiệp Hà Tây.
- Riêng về huyện Mỹ Đức: Tư liệu chủ yếu nằm trong các báo cáo chính trị, niên giám thống kê của Huyện ủy, UBND huyện và 4 cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Đức, cùng hệ thống sách lịch sử Đảng bộ của 22 xã, thị trấn được biên soạn từ năm 1988 đến năm 2016.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình trên chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế học, địa lý, chính trị học hoặc tiếp cận ở quy mô toàn quốc, toàn tỉnh Hà Tây, chưa phản ánh đầy đủ tiến trình lịch sử chuyển biến cụ thể của cấp huyện. Các tư liệu về Mỹ Đức còn phân tán, thiếu tính đồng bộ và chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống giai đoạn 1991 - 2008 (đặc biệt là giai đoạn 2000 - 2008). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng toàn diện, có hệ thống bức tranh chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức dưới góc độ sử học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích:
Luận án sử dụng phương pháp luận sử học Mác-xít, dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội, trong đó phương thức sản xuất vật chất quyết định cấu trúc đời sống xã hội. Đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội toàn quốc (từ Đại hội VI năm 1986 đến Đại hội X năm 2006) đóng vai trò định hướng lý luận để phân tích sự vận dụng của Đảng bộ địa phương.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Là công trình nghiên cứu lịch sử địa phương theo hướng định tính kết hợp phân tích định lượng dữ liệu thống kê, tác giả sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic: Sử dụng kết hợp nhằm tái hiện tiến trình biến đổi kinh tế, xã hội theo trình tự thời gian, đồng thời khái quát bản chất, quy luật vận động và mối quan hệ giữa các lĩnh vực.
- Phương pháp chuyên ngành lịch sử kết hợp liên ngành: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu và thống kê toán học nhằm đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu qua hai giai đoạn, so sánh giữa Mỹ Đức với các huyện khác trong tỉnh Hà Tây (như Ứng Hòa, Chương Mỹ).
- Phương pháp điền dã lịch sử: Khảo sát thực tế tại các địa bàn của huyện Mỹ Đức để thu thập, đối chiếu, thẩm định và xác minh các nguồn tư liệu thành văn.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về đổi mới kinh tế - xã hội.
- Báo cáo chính trị, báo cáo tổng kết hàng năm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hà Tây và Huyện ủy, UBND huyện Mỹ Đức (1991 - 2008).
- Niên giám thống kê và số liệu điều tra do Chi cục Thống kê tỉnh Hà Tây và Chi cục Thống kê huyện Mỹ Đức công bố từ năm 1991 đến năm 2008.
- Nguồn tư liệu báo chí Hà Tây thời kỳ 1991 - 2007 lưu trữ tại Phòng Ngoại văn - Thư viện Hà Nội.
- Tư liệu hồi ký, khảo sát thực tế và các ấn phẩm lịch sử Đảng bộ xã, thị trấn trên địa bàn huyện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu thành hai nhóm: các công trình nghiên cứu kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới và các công trình về tỉnh Hà Tây cùng huyện Mỹ Đức. Tác giả tổng kết ba vấn đề đã được giải quyết: các công trình trước đây đã nêu lên được những nét cơ bản về đổi mới kinh tế - xã hội cả nước và từng mặt cụ thể ở Hà Tây (nông nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp); cung cấp dữ liệu cơ sở cho từng lĩnh vực chuyên ngành.
Đồng thời, chương này xác định rõ ba vấn đề mà các công trình trước chưa giải quyết và luận án tập trung thực hiện:
- Làm rõ các nhân tố tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội tác động đến chuyển biến của địa phương.
- Trình bày toàn diện, có hệ thống thực trạng chuyển biến kinh tế (theo ngành, thành phần, vùng) và xã hội (dân số, việc làm, giảm nghèo, văn hóa, chính sách) của Mỹ Đức từ năm 1991 đến năm 2008.
- Rút ra các nhận xét về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và các vấn đề đặt ra cho sự phát triển của huyện Mỹ Đức.
Chương 2: Khái quát về huyện Mỹ Đức và sự chuyển biến kinh tế, xã hội tại địa phương từ năm 1991 đến năm 1996
Chương 2 phân tích các yếu tố tác động và thực trạng địa phương qua hai giai đoạn: trước năm 1991 và giai đoạn 1991 - 1996.
Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
- Tọa độ cực Nam tại xã Hương Sơn là 22°33’ vĩ độ Bắc và 105°22’ kinh độ Đông. Địa giới: Bắc giáp Chương Mỹ, Nam giáp Hà Nam, Tây giáp Hòa Bình, Đông giáp Ứng Hòa qua sông Đáy.
- Địa hình bán sơn địa chuyển tiếp, có diện tích đất úng trũng và bị glây hóa, than bùn hóa chiếm 26,04% tổng diện tích tự nhiên; đất ngập nước và nửa ngập nước chiếm 23,32%; đất phù sa màu mỡ chiếm 24,94%. Huyện nằm trong vùng phân lũ của Hà Tây, hứng chịu lũ từ sông Tích, sông Hồng qua sông Đáy, lũ từ Hòa Bình (Lương Sơn, Kim Bôi) dồn về suối Sỏi, suối Đường đổ vào sông Thanh Hà và nước từ đầm Cửa Kỷ (Chương Mỹ) tràn xuống.
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, phân hóa hai mùa nóng - lạnh. Nhiệt độ mùa lễ hội chùa Hương dao động 16 - 20°C.
- Mạng lưới thủy văn: Sông Đáy dài 48 km, sâu 0,6 - 0,8 m, rộng trung bình 10 m (có đoạn 13 - 16 m); sông Mỹ Hà dài trên 3 km hợp lưu với sông Đáy tại Hội Xá; các suối Yến (dài 3 km), Long Vân, Tuyết Sơn có nguồn nước ngầm Caxtơ; hệ thống hồ Quan Sơn, Tuy Lai, Vĩnh An.
- Tài nguyên sinh vật: Rừng kín xanh mưa ẩm nhiệt đới có 350 loài thực vật thuộc 92 họ (lành vanh, sưa, nho vàng, lát hoa, thảo nam, rau sắng, củ mài...); 88 loài chim, 35 loài bò sát (gà lôi trắng, trăn đất, rái cá, kỳ đà mốc, báo hoa mai, vượn đen, voọc má trắng...).
- Khoáng sản: Than bùn tập trung ở 10 xã miền núi (trữ lượng khoảng 100 triệu tấn, lớn nhất ở Đồng Tâm, Thượng Lâm, Hương Sơn); đá vôi tạo thành dải từ Đồng Tâm đến Hương Sơn dài trên 40 km, rộng 1 - 2 km, trữ lượng ước tính khoảng 600 triệu m³; đất sét làm xi măng, gạch ngói từ Đồng Tâm đến An Phú.
Về đặc điểm dân cư và truyền thống lịch sử:
- Dân cư phân bố không đều, 70% dân số tập trung ở vùng đất bãi phù sa ven sông Đáy phía Đông từ xã Phúc Lâm đến xã Đốc Tín. Dân tộc chủ yếu là người Kinh, có một bộ phận người Mường sinh sống tại xã An Phú (gốc di cư từ Kim Bôi, Hòa Bình).
- Văn hóa và di tích: Đình làng Bột Xuyên (thờ bộ tướng Nguyễn Uy), đình Phúc Khê (thờ Đô thống Lê Phụng Hữu), đền Kim Bôi xã Vạn Kim (thờ ba vị Nhất Lang, Nhị Lang, Tam Lang thời Lý Nam Đế), đình Thượng Tiết (thờ Ngô Quyền). Quần thể thắng cảnh Hương Sơn gồm 11 chùa, đền, tiêu biểu là chùa Thiên Trù và động Hương Tích (được Chúa Trịnh Sâm đề chữ "Nam thiên đệ nhất động"). Truyền thống hiếu học có hai cha con Nguyễn Công Khuê (đỗ Hoàng Giáp năm 1710) và Nguyễn Kỳ Nhậm (đỗ Tiến sĩ năm 1733) tại thôn Lê Xá, xã Lê Thanh.
- Làng nghề thủ công truyền thống: Dệt Phùng Xá, thêu Đại Nghĩa, mây tre đan Tuy Lai, An Phú, Phù Lưu Tế, Phúc Lâm.
Tình hình kinh tế - xã hội trước năm 1991:
- Quản lý nông nghiệp: Thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (1981), Huyện ủy ra Nghị quyết số 22 khoán sản phẩm cây lúa tại 22 hợp tác xã. Cuối năm 1987 triển khai Quyết định 188 của Tỉnh ủy Hà Sơn Bình. Ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 (Khoán 10), xã Lê Thanh được chọn làm điểm giao khoán ruộng đất tới hộ xã viên. Tiếp đó, triển khai Nghị định 64/CP của Chính phủ, có 96% số hộ nông dân huyện được giao quyền sử dụng đất lâu dài.
- Sản xuất nông nghiệp: Năm 1988 diện tích cây lương thực đạt 18.099 ha, năng suất lúa cả năm đạt 53,8 tạ/ha (riêng vụ chiêm xuân đạt 35 tạ/ha). Năm 1989, năng suất lúa đạt 67,45 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực đạt 55.013 tấn (tăng 18,4% so với năm 1988). Hai năm 1989 - 1990 tổng sản lượng đạt trên 48.000 tấn/năm. Năm 1989 có 11 hợp tác xã trồng mới 176 ha cây công nghiệp (trong đó có 56 ha chè).
Bảng số liệu tổng hợp tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức giai đoạn trước năm 1991:
| Chỉ tiêu thống kê |
Dữ liệu huyện Mỹ Đức |
Dữ liệu so sánh / Toàn tỉnh Hà Sơn Bình |
Ghi chú văn bản |
| Diện tích gieo trồng các loại cây (1976) |
15.685 ha |
Lúa: 14.188 ha; Rau đậu: 759 ha; Cây công nghiệp: 738 ha |
Bảng 2.1 của luận án |
| Sản lượng lương thực quy thóc (1985) |
31.218 tấn |
Ứng Hòa: 47.081 tấn |
Bảng 2.2 của luận án |
| Sản lượng hoa màu quy thóc (1985) |
3.165 tấn |
Ứng Hòa: 2.413 tấn |
Bảng 2.2 của luận án |
| Diện tích và sản lượng lúa cả năm (1985) |
14.303 ha / 28.053 tấn |
Ứng Hòa: 20.220 ha / 44.670 tấn |
Bảng 2.2 của luận án |
| Diện tích và sản lượng ngô (1985) |
561 ha / 1.263 tấn |
Ứng Hòa: 524 ha / 1.658 tấn |
Bảng 2.2 của luận án |
| Diện tích ngô cả năm 1990 |
647 ha |
Ứng Hòa: 1.169 ha |
Bảng 2.2 của luận án |
| Chăn nuôi trâu (1976) |
Thứ 13/24 toàn tỉnh |
Toàn tỉnh Hà Sơn Bình: 123.276 con/tấn |
Bảng 2.3 của luận án |
| Chăn nuôi lợn sữa (1976) |
Thứ 4/24 toàn tỉnh |
Toàn tỉnh Hà Sơn Bình: 120.287 con/tấn |
Bảng 2.3 của luận án |
| Chăn nuôi chim bồ câu (1976) |
Thứ 4/24 toàn tỉnh |
Toàn tỉnh Hà Sơn Bình: 15.259 con/tấn |
Bảng 2.3 của luận án |
| Máy phát điện phục vụ nông nghiệp (1976) |
0 chiếc |
Toàn tỉnh Hà Sơn Bình: 39 chiếc |
Bảng 2.4 của luận án |
| Động cơ điện phục vụ nông nghiệp (1976) |
0 chiếc |
Toàn tỉnh Hà Sơn Bình: 730 chiếc |
Bảng 2.4 của luận án |
| Động cơ Điezen phục vụ nông nghiệp (1976) |
37 chiếc |
Toàn tỉnh Hà Sơn Bình: 2.082 chiếc |
Bảng 2.4 của luận án |
| Máy nghiền thức ăn gia súc (1976) |
0 chiếc |
Toàn tỉnh Hà Sơn Bình: 172 chiếc |
Bảng 2.4 của luận án |
| Cày theo công nông (1976) |
11 chiếc |
Toàn tỉnh Hà Sơn Bình: 224 chiếc |
Bảng 2.4 của luận án |
- Về công tác thủy lợi: Ngày 11/5/1976, Huyện ủy phát động "Chiến dịch 19-5", huy động hơn 10.000 lao động đắp đập, tôn tạo hồ Vân Mộng, hồ Vĩnh An, cơi đê sông Mỹ Hà. Năm 1980 tiếp tục đào mương tiêu từ Đồng Tâm đi Phúc Lâm dài 4 km tiêu nước vùng đồng cao huyện Chương Mỹ ra sông Đáy. Toàn huyện lắp đặt 80 máy bơm điện; hoàn thành trạm bơm Phú Yên (10 máy bơm) tiêu úng cho 1.000 ha lúa xã Hương Sơn. Đến cuối kỳ 1981 - 1985, huyện hoàn thành cơ bản công tác thủy lợi hóa.
- Thủ công nghiệp và thương nghiệp: Giá trị sản xuất thủ công nghiệp năm 1976 đạt 4.048 đồng (xuất khẩu chiếm 17,3%). Ngày 12/12/1978, Huyện ủy ra Nghị quyết số 29 chuyển dịch 30 - 40% lao động nông nghiệp sang làm nghề thủ công (dệt Phùng Xá, thêu Đại Nghĩa, dệt lụa Đốc Tín). Về thương nghiệp, ngày 20/10/1980 ra Nghị quyết số 18-NQ/HU; hình thành mạng lưới 7 chợ phiên cách nhau 5 ngày theo lịch âm (chợ Phủ họp các ngày 4, 9, 14, 19, 24, 29; chợ Thá trên họp ngày 6, 16, 26).
- Giai đoạn 1991 - 1996: Sau khi tái lập tỉnh Hà Tây (10/1991), huyện Mỹ Đức thực hiện chuyển đổi kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu nông nghiệp chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa, kiểm soát úng ngập và bước đầu phân định lại cơ cấu lao động.
Chương 3: Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức từ năm 1996 đến năm 2008
Chương 3 trình bày sự phát triển của địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996).
Chuyển biến về kinh tế:
- Cơ cấu ngành kinh tế: Chuyển dịch từ thế độc canh nông nghiệp sang tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - du lịch. Giá trị sản xuất nông nghiệp chuyển biến theo hướng thâm canh cây lương thực kết hợp mở rộng cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Tiến hành dồn điền đổi thửa, tổng hợp diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi (số liệu thống kê ghi nhận đến 30/2/2007) và phát triển kinh tế trang trại (thống kê toàn huyện tính đến 30/7/2007). Ngành chăn nuôi gia tăng số lượng đàn trâu, bò, đàn lợn (theo dõi từ 1996 đến 2008) và gia cầm. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát huy thế mạnh sản xuất vật liệu xây dựng (khai thác đá vôi, gạch ngói, đất sét) và phục hồi các làng nghề truyền thống. Dịch vụ - du lịch phát triển mạnh quanh quần thể danh thắng Hương Sơn, kéo theo sự gia tăng của vận tải hành hóa, hành khách và tổng số vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1995 - 2005.
- Cơ cấu thành phần kinh tế: Luận án phân tích sự thay đổi cơ cấu GDP theo các thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế hộ cá thể. Kinh tế cá thể, tư nhân ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bán lẻ.
- Cơ cấu vùng kinh tế: Hình thành rõ nét 3 vùng kinh tế sinh thái: vùng bãi ven sông Đáy (chuyên canh cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, dâu tằm, nghề thủ công), vùng đồng trũng (chuyển đổi cấy lúa kết hợp thủy sản, lúa - cá) và vùng bán sơn địa phía Tây (phát triển kinh tế vườn đồi, rừng, khai khoáng, chăn nuôi đại gia súc và du lịch dịch vụ).
Chuyển biến về xã hội:
- Lao động và việc làm: Luận án ghi nhận biến động dân số huyện giai đoạn 1996 - 2008, phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế trong thời kỳ 1995 - 2003. Lao động nông nghiệp giảm dần tỷ lệ tương đối nhưng vẫn chiếm đa số, lao động công nghiệp và thương mại dịch vụ có chiều hướng tăng.
- Công tác xóa đói, giảm nghèo: Triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, cho vay vốn ưu đãi, chuyển giao kỹ thuật canh tác, giúp hạ tỷ lệ hộ đói nghèo qua từng năm.
- Đời sống văn hóa - xã hội: Hệ thống giáo dục - đào tạo được mở rộng từ mầm non đến trung học phổ thông; cơ sở y tế huyện và trạm y tế xã được kiên cố hóa, nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu; các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao và thông tin truyền thông phát triển phục vụ đời sống dân cư.
- Chính sách xã hội: Thực hiện trợ giúp thường xuyên và đột xuất cho các đối tượng chính sách, người có công, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và phong trào đền ơn đáp nghĩa.
Chương 4: Một số nhận xét về chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức từ năm 1991 đến năm 2008
Chương 4 đúc kết 5 nhận định thực tiễn qua tiến trình nghiên cứu:
- Chuyển biến kinh tế, xã hội Mỹ Đức trải qua hai giai đoạn phát triển: Giai đoạn 1991 - 1996 là bước khởi đầu phục hồi và thích ứng với cơ chế thị trường, tháo gỡ khó khăn về lương thực; giai đoạn 1996 - 2008 là bước đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đa dạng các ngành nghề.
- Sự chuyển biến kinh tế ở Mỹ Đức phù hợp yêu cầu phát triển và tiềm năng của địa phương: Huyện đã biết khai thác lợi thế bán sơn địa, tận dụng dải đá vôi và than bùn, khai thác mặt nước hồ đầm phát triển thủy sản và phát huy giá trị di tích chùa Hương thành mũi nhọn kinh tế dịch vụ.
- Kinh tế huyện Mỹ Đức có chuyển biến nhưng chưa bền vững: Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp; quy mô sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ lẻ, phân tán; giá trị gia tăng chưa cao.
- Sự chuyển biến về kinh tế đã tác động đến sự chuyển biến về xã hội của Mỹ Đức: Thu nhập bình quân đầu người được cải thiện kéo theo sự phát triển của giáo dục, y tế, thiết chế văn hóa, giải quyết việc làm và giảm tỷ lệ hộ nghèo.
- Kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức còn nhiều khó khăn và thách thức: Điểm xuất phát kinh tế thấp; nằm trong vùng phân lũ chịu thiên tai úng ngập thường xuyên; xa trục giao thông lớn (Quốc lộ 6); kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi chưa đồng bộ, thu hút đầu tư trực tiếp còn hạn chế so với các địa phương lân cận trong tỉnh Hà Tây.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới của luận án được tác giả tự xác định:
- Tái hiện có hệ thống và trung thực toàn bộ tiến trình chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức từ năm 1991 (thời điểm tái lập tỉnh Hà Tây) đến năm 2008 (thời điểm sáp nhập tỉnh Hà Tây vào Thủ đô Hà Nội).
- Làm rõ những thành tựu đạt được trong chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng kinh tế; chỉ ra những hạn chế nội tại và lý giải cụ thể nguyên nhân khách quan, chủ quan của những thành tựu và hạn chế đó.
- Rút ra các nhận xét phản ánh nét đặc thù của một huyện bán sơn địa trũng phân lũ; phân tích vai trò lãnh đạo, quản lý của Huyện ủy, HĐND, UBND và sự tham gia của các tổ chức đoàn thể nhân dân trong sự nghiệp đổi mới tại cơ sở.
- Cung cấp cơ sở khoa học và nguồn dữ liệu lịch sử xác thực giúp Huyện ủy, UBND huyện Mỹ Đức hoạch định các chính sách, biện pháp phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời làm tài liệu tham khảo cho công tác biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương và giáo dục truyền thống cách mạng.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ văn bản:
- Cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi tiêu úng và giao thông liên vùng để khắc phục bất lợi của vùng phân lũ.
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nông nghiệp hàng hóa sinh thái gắn với chế biến; quy hoạch khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản đá vôi và than bùn gắn với bảo vệ môi trường.
- Bảo tồn và phát huy bền vững giá trị quần thể di tích thắng cảnh Hương Sơn, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, văn hóa lễ hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Nguồn tư liệu lưu trữ của một số ban ngành cấp xã trong những năm đầu thập niên 1990 còn phân tán, ghi chép chưa thật sự thống nhất.
- Luận án khép lại mốc thời gian nghiên cứu vào năm 2008 khi sáp nhập Hà Tây vào Thủ đô Hà Nội, do đó chưa khảo sát sâu sự chuyển biến của địa phương trong giai đoạn trực thuộc địa giới hành chính Hà Nội mở rộng.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu kinh tế - xã hội huyện Mỹ Đức từ năm 2008 đến nay trong mối quan hệ gắn kết với các quận, huyện của Thủ đô Hà Nội.
- Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về kinh tế du lịch tâm linh lễ hội Hương Sơn và tác động của nó tới phân tầng xã hội và sinh kế của cư dân địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Địa lý kinh tế và Kinh tế phát triển.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm sử dụng làm tài liệu giảng dạy phần lịch sử địa phương và phương pháp nghiên cứu lịch sử kinh tế - xã hội cấp huyện.
- Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên làm công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách tại huyện Mỹ Đức và thành phố Hà Nội.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 3 với hệ thống tư liệu thống kê về diện tích, năng suất, các chỉ tiêu thủy lợi hóa, cơ chế khoán sản phẩm và phương thức dồn điền đổi thửa vùng bán sơn địa trũng ngập.
Câu hỏi thường gặp
Huyện Mỹ Đức có những đặc điểm tự nhiên và địa hình đặc thù nào chi phối sản xuất nông nghiệp?
Mỹ Đức là huyện bán sơn địa, diện tích đất bị úng trũng và biến đổi do ngập úng thường xuyên (glây hóa, than bùn hóa) chiếm tới 26,04% và đất ngập/nửa ngập chiếm 23,32% diện tích tự nhiên. Huyện nằm kẹp giữa sông Đáy ở phía Đông và dãy núi đá vôi ở phía Tây, là vùng phân lũ của Hà Tây nên hàng năm tiếp nhận nước lũ từ sông Tích, sông Hồng qua sông Đáy và lũ rừng Hòa Bình đổ về, gây ngập úng nghiêm trọng cho vụ mùa, đòi hỏi chi phí đầu tư thủy lợi rất lớn.
Cơ chế quản lý nông nghiệp tại huyện Mỹ Đức trước năm 1991 đã trải qua các mốc chuyển đổi chủ yếu nào?
Năm 1981, Huyện ủy triển khai Chỉ thị 100 của Ban Bí thư bằng Nghị quyết số 22 về khoán sản phẩm cây lúa tại 22 hợp tác xã. Cuối năm 1987, triển khai Quyết định 188 của Tỉnh ủy Hà Sơn Bình về quản lý, phân phối. Ngày 5/4/1988, thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (Khoán 10), chọn xã Lê Thanh làm điểm khoán đến hộ xã viên. Sau đó thực hiện Nghị định 64/CP