Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Chính sách xuất bản ở Việt Nam hiện nay" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công (mã số 934.02), được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Việt Hà dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Đỗ Phú Hải tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hoạt động xuất bản tại Việt Nam được xác định là lĩnh vực văn hóa, tư tưởng thực hiện nhiệm vụ phổ biến tri thức xã hội, giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại, phục vụ nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức, lối sống và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, xuất bản phẩm mang bản chất hàng hóa đặc thù, đòi hỏi sự vận hành trong cơ chế thị trường. Sau hơn 15 năm triển khai Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư và gần 10 năm thực thi Luật Xuất bản năm 2012, ngành xuất bản đạt được những kết quả về quy mô, số lượng ấn phẩm và bước đầu thích ứng với cơ chế thị trường thông qua các hoạt động liên kết, mua bán bản quyền quốc tế.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai chính sách xuất bản bộc lộ các bất cập:

  • Sự thiếu tương thích giữa mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể; một số mục tiêu cụ thể còn chung chung, nặng về chức năng truyền thống và chưa bắt kịp biến chuyển mới.
  • Các giải pháp và công cụ chính sách thiếu tính đồng bộ với hệ thống chính sách kinh tế - xã hội tổng thể; quy hoạch, sắp xếp các cơ sở xuất bản, in và phát hành chưa tương thích với quy hoạch phát triển vùng, địa phương.
  • Thiếu các cơ chế thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu hút đầu tư, khiến phần lớn đơn vị chỉ duy trì quy mô ổn định, ít có sự chuyển biến mạnh.
  • Bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra áp lực cạnh tranh từ các phương tiện truyền thông mới, mạng xã hội, sách điện tử (ebook), sách thực tế tăng cường (vrbook) và các nền tảng số di động.
  • Văn bản Thông báo số 19-TB/TW ngày 29/12/2016 của Ban Bí thư đã chỉ rõ: nhiều vấn đề lý luận mới trong công tác xuất bản chưa được làm rõ và còn thiếu cơ chế, chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho xuất bản phát triển. Đây chính là khoảng trống lý luận và thực tiễn mà đề tài luận án xác định giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Luận án nghiên cứu chính sách xuất bản từ các phương diện mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách, nhằm tạo cơ sở khoa học để phân tích, đánh giá thực trạng chính sách xuất bản ở Việt Nam theo các tiêu chí xác định, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị hoàn thiện chính sách xuất bản trong giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan để xác định những vấn đề cần giải quyết.
  2. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chính sách xuất bản: khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, nội dung giải pháp, vai trò, tiêu chí đánh giá và các nhân tố tác động.
  3. Mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách xuất bản ở Việt Nam theo các tiêu chí xác định; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
  4. Xác định định hướng, yêu cầu và đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách xuất bản ở Việt Nam.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác lập 5 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Đặc điểm, vai trò và nội dung chính sách xuất bản là gì?
  2. Chính sách xuất bản cần được đánh giá theo các tiêu chí nào?
  3. Thực trạng nội dung của chính sách xuất bản ở Việt Nam như thế nào?
  4. Nguyên nhân của những hạn chế chính sách xuất bản ở Việt Nam là gì?
  5. Giải pháp nào để hoàn thiện chính sách xuất bản ở Việt Nam thời gian tới?

Giả thuyết nghiên cứu: Chính sách xuất bản ở Việt Nam thời gian qua chưa thực sự khoa học, hợp lý, chưa đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn. Trong giai đoạn tiếp theo, cần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách xuất bản nhằm định hướng, dẫn dắt ngành xuất bản phát triển, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong tình hình mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống văn bản chính sách về xuất bản và các chính sách liên quan trực tiếp đến hoạt động xuất bản (như chính sách thuế, chính sách lĩnh vực văn hóa tư tưởng).
  • Phạm vi nội dung: Luận án không tiếp cận toàn bộ chu trình các bước hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá, mà tập trung nghiên cứu nội dung chính sách xuất bản (gồm hệ thống mục tiêu, giải pháp, công cụ được xác lập trong văn bản) cùng kết quả thực hiện để đánh giá trên góc độ hệ thống theo các tiêu chí của một chính sách công tốt. Trọng tâm xem xét là lĩnh vực xuất bản, hai khâu in và phát hành được khảo sát kết hợp để minh họa.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu chính sách xuất bản tại Việt Nam, kết hợp tìm hiểu khái quát chính sách xuất bản của một số quốc gia để rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn 10 năm từ năm 2008 đến năm 2018 (sử dụng số liệu thống kê ngành cập nhật giai đoạn 2012-2019 và dữ liệu điều tra thực địa năm 2020).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận hai nhóm công trình nghiên cứu chính trong và ngoài nước:

Nhóm nghiên cứu về lý luận chính sách công

Các công trình quốc tế cung cấp nền tảng lý thuyết và công cụ phân tích chu trình chính sách, cơ chế lựa chọn công cụ và kỹ thuật đánh giá:

  • Thomas R. Dye (Understanding Public Policy) tiếp cận chính sách công qua định nghĩa về những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm.
  • Xun Wu, M. Ramesh, Michael Howlett, Scott Fritzen (The Public Policy Primer: Managing the Policy Process) và Michael Howlett, M. Ramesh (Studying Public Policy: Policy Cycles and Policy Subsystems) nghiên cứu chu trình chính sách và các hệ thống con cấu thành.
  • Michael E. Kraft, Scott R. Furlong (Public policy: politics, analysis, and alternatives) nhấn mạnh cách tiếp cận liên ngành trong phân tích mâu thuẫn chính sách.
  • William Ieuan Jenkins (Policy Analysis: A Political and Organizational Perspective), Wayne Parsons (Public Policy: An Introduction to the Theory and Practice of Policy Analysis), David Leo Weimer, Aidan R. Vining (Policy Analysis: Concepts and Practice), Paul Spicker (Policy Analysis for Practice: Applying Social Policy), William N. Dunn (Public policy analysis) phân tích chuyên sâu các phương pháp định tính, định lượng và khung đánh giá chính sách.

Các công trình trong nước về chính sách công:

  • Lê Chi Mai (Những vấn đề cơ bản về chính sách công và chu trình chính sách), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Tìm hiểu về khoa học chính sách công), Nguyễn Hữu Hải (Chính sách công - Những vấn đề cơ bản), Hồ Việt Hạnh (Bàn về khái niệm chính sách công), Học viện Hành chính Quốc gia (Giáo trình phân tích và hoạch định chính sách công), Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (Đại cương về phân tích chính sách công), Đỗ Phú Hải (Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn), Lê Vinh Danh (Chính sách công của Hoa Kỳ).
  • Luận án cũng khảo cứu kinh nghiệm phương pháp từ các luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công và Quản lý công: Nguyễn Thị Hoa (2018), Bùi Ngọc Hiển (2018), Tô Trọng Mạnh (2020), Ngô Hoài Sơn (2021), Lý Thị Ngọc (2020), Nguyễn Thị Thu Nga (2019), Bùi Nghĩa (2019), Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2021).

Nhóm nghiên cứu về xuất bản và chính sách xuất bản

Các công trình quốc tế về xuất bản:

  • Philip G. Altbach, Damtew Teferra (1999, Xuất bản và phát triển), gồm các khảo cứu của Paul Brickhill về chuyển đổi hệ thống xuất bản nhà nước sang xuất bản thương mại, Czeslaw Jan Grycz về xuất bản điện tử, và Philip G. Altbach về xuất bản tại các nước đang phát triển.
  • Châu Úy Hoa (2017, Truyền thông số và chuyển đổi mô hình xuất bản) phân tích chuỗi giá trị xuất bản số 3 phân khúc (cung cấp nội dung, cung cấp dịch vụ/nền tảng, tiêu thụ online) và 4 mâu thuẫn trong bảo hộ bản quyền số.
  • Trần Hân (2013, Luận đàm về ngành xuất bản Trung Quốc) nghiên cứu chuyển đổi mô hình nhà xuất bản sang cơ chế doanh nghiệp.
  • De Prato Giuditta, Jean Paul Simon (2014, Public policies and government interventions in the book publishing industry) xem xét 5 vấn đề can thiệp của chính phủ: sở hữu trí tuệ, quản lý giá sách, thuế giá trị gia tăng giữa sách giấy và sách điện tử, thiết chế thư viện, vấn đề cạnh tranh.
  • Luận án tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) phân tích giới hạn của xuất bản truyền thống và mô hình xuất bản Internet.
  • Hean Tat Keh (1998), Dallas John Baker, Donna Lee Brien, Jen Webb (1998, Publishing and Culture), André Schiffrin (The Business of Books), Kelvin Smith (The Publishing Business: From p-books to e-books), Robin Birn, Patrick Forsyth (Marketing in Publishing).

Các công trình trong nước về xuất bản và quản lý nhà nước:

  • Khảo cứu tổng thể: Nguyễn Hồng Vinh (2011, Xuất bản Việt Nam trong những năm đổi mới đất nước).
  • So sánh quốc tế và xã hội hóa: Nguyễn An Tiêm, Nguyễn Nguyên (2013, Tổ chức, quản lý và chính sách xuất bản của một số quốc gia - kinh nghiệm đối với Việt Nam; 2015, Xã hội hóa xuất bản một số vấn đề lý luận và thực tiễn).
  • Tổ chức, quản lý và kinh tế xuất bản: Nguyễn Duy Hùng (2010), Hoàng Xuân Vinh (2020), Đường Vinh Sường (1993), Khuất Duy Kim Hải (1994), Phạm Thị Thanh Tâm (1996), Nguyễn Hoàng Dũng (2002), Nguyễn Anh Tú (2015), Vương Thùy Linh (2015), Nguyễn Thị Thục An (2014), Đỗ Thị Quyên.
  • Công tác chính trị, tư tưởng và lãnh đạo của Đảng: Đào Thị Hoàn (2020), Phạm Thị Vui (2020).
  • Quyền tác giả và kiểm soát sai phạm: Nguyễn Lan Hương (2013), Phạm Thị Xuân Thủy (2009), Hoàng Mạnh Thắng (2012).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Từ việc tổng kết y văn, tác giả chỉ ra ba khoảng trống chính:

  1. Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận xuất bản theo từng khía cạnh riêng lẻ thuộc chuyên ngành văn hóa học, luật học, kinh tế học hoặc lịch sử Đảng, chưa có công trình nào xây dựng khung lý luận bao quát về chính sách xuất bản dưới góc độ chuyên ngành Chính sách công.
  2. Chưa có nghiên cứu nào phân tích và đánh giá một cách có hệ thống nội dung chính sách xuất bản ở Việt Nam (bao gồm mục tiêu, giải pháp, công cụ) dựa trên một bộ tiêu chí đánh giá chính sách công rõ ràng.
  3. Thiếu các giải pháp hoàn thiện chính sách có tính đồng bộ, gắn kết giữa việc điều chỉnh mục tiêu vĩ mô với việc tái cấu trúc các giải pháp và công cụ thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự tích hợp giữa lý luận chính sách công và đặc trưng của ngành xuất bản:

  • Bản chất "kép" của hoạt động xuất bản: Xuất bản vừa là hoạt động sáng tạo tri thức, tư tưởng thuộc lĩnh vực văn hóa, vừa là hoạt động sản xuất vật chất thuộc lĩnh vực kinh tế. Xuất bản phẩm là hàng hóa đặc thù có giá trị sử dụng về mặt tinh thần, giáo dục và có giá trị kinh tế hình thành từ các chi phí sáng tác, biên tập, in ấn và lưu thông. Do đó, xuất bản phải thực hiện đồng thời hai chức năng: chức năng chính trị - tư tưởng (hiệu quả xã hội là mục tiêu lâu dài) và chức năng kinh doanh (hiệu quả kinh tế là điều kiện duy trì sự tồn tại).
  • Khái niệm chính sách công: Trên cơ sở kế thừa quan điểm của William Jenkins, Michael Howlett, Đỗ Phú Hải và Nguyễn Hữu Hải, luận án định nghĩa chính sách công là tập hợp các quyết định và hành động tương ứng của cơ quan có thẩm quyền hướng đến các nhóm đối tượng thụ hưởng nhằm giải quyết những vấn đề công theo mục tiêu nhất định.
  • Khái niệm chính sách xuất bản: Luận án đưa ra định nghĩa: Chính sách xuất bản là tập hợp các quyết định và hành động tương ứng của cơ quan có thẩm quyền hướng đến các chủ thể tham gia xuất bản, nhằm đưa xuất bản thực hiện tốt chức năng văn hóa - tư tưởng và chức năng kinh doanh của mình.
  • Cấu trúc nội dung chính sách: Gồm hệ thống mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách (công cụ tổ chức bộ máy, công cụ pháp luật, công cụ tài chính, công cụ nhân sự).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, áp dụng cách tiếp cận liên ngành (chính sách công, luật học, chính trị học, hành chính học) kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

Phương pháp nghiên cứu Nguồn dữ liệu / Quy mô mẫu Mục đích áp dụng
Nghiên cứu tài liệu thứ cấp Văn kiện, nghị quyết của Đảng; Luật Xuất bản; báo cáo định kỳ của Bộ TTTT, Cục XBIPH, Ban Tuyên giáo Trung ương Đánh giá hiện trạng thể chế, văn bản pháp quy, kết quả sản xuất kinh doanh ngành xuất bản
Điều tra bảng hỏi (khảo sát) 780 mẫu khảo sát (thực hiện tháng 4/2020) gồm:
- Cán bộ quản lý (Cục XBIPH, Bộ TTTT, Ban TGTW): 80 mẫu
- Cán bộ, biên tập viên nhà xuất bản: 100 mẫu
- Đội ngũ sáng tác (tác giả): 100 mẫu
- Độc giả: 500 mẫu
Thu thập ý kiến đánh giá về tính hợp lý của mục tiêu, hiệu lực giải pháp, công cụ và chủ trương xã hội hóa xuất bản
Phỏng vấn sâu Đại diện lãnh đạo Cục XBIPH, lãnh đạo và biên tập viên nhà xuất bản, đại diện độc giả Làm rõ cơ chế vận hành chính sách, rào cản thể chế và nguyên nhân của những tồn tại
Phương pháp so sánh Chính sách xuất bản Việt Nam so với đường lối của Đảng; so sánh với các hiệp ước quốc tế (bản quyền); đối chiếu mô hình quản lý của một số nước (Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản...) Tìm kiếm điểm tương đồng, khác biệt và bài học kinh nghiệm về quản lý gián tiếp, cơ chế tự quản và hậu kiểm
Phương pháp thống kê Chuỗi số liệu ngành xuất bản giai đoạn 2012-2019 Phân tích xu hướng biến động về doanh thu, lợi nhuận, số đầu sách, số bản sách và mức hưởng thụ sách
Dự báo khoa học Xu hướng công nghệ số (ebook, vrbook, trí tuệ nhân tạo) Xác định yêu cầu và cơ sở đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2030

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nhóm nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến chính sách công và hoạt động xuất bản. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn nghiên cứu quốc tế coi xuất bản là ngành công nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường chịu sự điều tiết của pháp luật thương mại, quyền tác giả và quy luật thị trường, có sự can thiệp hạn chế của nhà nước thông qua hiệp hội nghề nghiệp. Ngược lại, tại Việt Nam, xuất bản trước hết là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Chương này phân tích các hạn chế của những công trình nghiên cứu trước đây: nghiên cứu về quản lý nhà nước thường tập trung vào khía cạnh hành chính; nghiên cứu kinh tế xuất bản chỉ xem xét hoạt động sản xuất kinh doanh; nghiên cứu về bản quyền hay in lậu chỉ đi sâu vào một khâu kỹ thuật đơn lẻ. Từ đó, chương 1 khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu chính sách xuất bản như một hệ thống hoàn chỉnh từ mục tiêu, giải pháp đến công cụ thực thi dưới góc độ khoa học chính sách công.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về chính sách xuất bản

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài:

  • Phân tích bản chất của xuất bản thông qua sự tích hợp giữa quá trình sáng tạo tinh thần và chu trình sản xuất vật chất (gồm 3 khâu liên hoàn: xuất bản, in và phát hành).
  • Khẳng định xuất bản phẩm là hàng hóa đặc thù, giá cả không chỉ chịu sự chi phối của quy luật giá trị, cung - cầu mà còn được định hướng bởi các chính sách hỗ trợ, đặt hàng của nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị và nâng cao dân trí.
  • Xác lập khái niệm chính sách xuất bản; phân tích cấu trúc chính sách gồm hệ thống mục tiêu, giải pháp và công cụ.
  • Làm rõ hệ thống các chủ thể tham gia: chủ thể hoạch định và quản lý nhà nước (Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, các bộ ngành phối hợp, chính quyền địa phương); chủ thể chịu sự tác động và thực thi (cơ quan chủ quản, nhà xuất bản, cơ sở in, đơn vị phát hành, tác giả và người sử dụng xuất bản phẩm).
  • Phân tích kinh nghiệm chính sách xuất bản của một số quốc gia đại diện: nhóm nước phương Tây (ít can thiệp trực tiếp, đề cao vai trò hiệp hội, sử dụng cơ chế hậu kiểm), nhóm nước châu Á và Trung Quốc (quản lý chuyển đổi mô hình doanh nghiệp, kiểm soát nội dung). Từ đó rút ra bài học cho Việt Nam về xử lý mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và phát huy quyền tự chủ sản xuất kinh doanh.

Chương 3: Thực trạng chính sách xuất bản ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về thực trạng nội dung chính sách xuất bản dựa trên dữ liệu văn bản và số liệu khảo sát thực tế:

  • Sơ đồ 3.1 mô hình hóa mối quan hệ giữa các cơ quan đóng vai trò là công cụ tổ chức của chính sách xuất bản, từ cơ quan lãnh đạo (Ban Tuyên giáo Trung ương), cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục XBIPH) đến các cơ quan chủ quản và đơn vị xuất bản.
  • Thực trạng mục tiêu chính sách: Đánh giá thông qua kết quả khảo sát cho thấy mục tiêu chính trị - tư tưởng được duy trì ổn định, tuy nhiên mục tiêu phát triển kinh tế xuất bản còn thiếu các chỉ tiêu định lượng rõ ràng; mục tiêu xuất bản điện tử chưa được cụ thể hóa bằng các tiêu chí công nghệ phù hợp.
  • Thực trạng giải pháp và công cụ chính sách: Phân tích các chính sách ưu đãi thuế, chính sách quy hoạch nhà xuất bản, cơ chế đặt hàng xuất bản phẩm phục vụ vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo (số liệu đặt hàng giai đoạn 2012-2016).
  • Tổng hợp số liệu sản xuất kinh doanh của ngành xuất bản giai đoạn 2012-2019:
    • Doanh thu toàn ngành và nộp ngân sách nhà nước duy trì mức tăng trưởng nhưng không đồng đều giữa các đơn vị.
    • Tỷ suất lợi nhuận sau thuế của phần lớn các nhà xuất bản ở mức thấp; nguồn lực tích lũy để tái đầu tư công nghệ số bị hạn chế.
    • Kết quả xuất bản sách, số bản sách và mức hưởng thụ sách bình quân đầu người giai đoạn 2012-2019 có sự cải thiện về mặt cơ học nhưng phân bổ chưa đồng đều giữa khu vực đô thị và nông thôn.
  • Đánh giá tổng hợp:
    • Ưu điểm: Bảo đảm tốt định hướng chính trị, tư tưởng; ngăn chặn các nội dung xuyên tạc, sai trái; xuất bản phẩm đa dạng về đề tài; từng bước hình thành thị trường sách có sự tham gia của các thành phần kinh tế qua hình thức liên kết.
    • Hạn chế: Sự thiếu gắn kết giữa mục tiêu văn hóa và mục tiêu kinh tế; công cụ pháp lý chậm sửa đổi trước sự phát triển của công nghệ số; tình trạng in lậu, vi phạm quyền tác giả diễn biến phức tạp; quy chế tài chính đối với nhà xuất bản (đặc biệt là mô hình đơn vị sự nghiệp công lập có thu) còn nhiều vướng mắc.
    • Nguyên nhân: Nhận thức của một số cơ quan chủ quản chưa đầy đủ về vị trí của xuất bản; năng lực thích ứng kinh tế thị trường của đội ngũ cán bộ xuất bản còn hạn chế; công tác thanh tra, kiểm tra thiếu nguồn lực; sự phối hợp liên ngành giữa quản lý thông tin, thuế, quản lý thị trường và hải quan chưa chặt chẽ.

Chương 4: Định hướng, yêu cầu và giải pháp cơ bản hoàn thiện chính sách xuất bản ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất phương hướng và các biện pháp can thiệp chính sách:

  • Xác định định hướng hoàn thiện: Giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng; chuyển đổi ngành xuất bản thành ngành kinh tế - công nghệ vững mạnh; thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và phát triển xuất bản điện tử.
  • Yêu cầu đối với chính sách: Phải bảo đảm tính đồng bộ, tính khả thi, tính mở nhằm huy động các nguồn lực xã hội và bảo đảm sự hài hòa giữa chức năng tuyên truyền nhiệm vụ chính trị với hiệu quả kinh doanh.
  • Các nhóm giải pháp cơ bản:
    1. Hoàn thiện mục tiêu chính sách: Tái cấu trúc mục tiêu theo hướng gắn kết nhiệm vụ tư tưởng với chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế ngành; xác định các mục tiêu định lượng về mức hưởng thụ sách bình quân và tỷ trọng sách điện tử đến năm 2030.
    2. Hoàn thiện công cụ và thể chế pháp lý: Rà soát, sửa đổi Luật Xuất bản 2012 và các văn bản dưới luật; ban hành quy định cụ thể về quản lý xuất bản điện tử, quy chuẩn dữ liệu số, phân phối nội dung đa nền tảng và bảo hộ bản quyền trên không gian mạng.
    3. Hoàn thiện giải pháp tài chính và đầu tư: Đổi mới phương thức đặt hàng xuất bản phẩm theo hướng đấu thầu cạnh tranh minh bạch; áp dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng đối với cả sách giấy và sản phẩm số; thành lập quỹ hỗ trợ phát triển xuất bản.
    4. Hoàn thiện mô hình tổ chức và bộ máy quản lý: Quy hoạch lại hệ thống nhà xuất bản; đẩy mạnh chuyển đổi các nhà xuất bản đủ điều kiện sang mô hình doanh nghiệp kinh doanh nội dung số; nâng cao năng lực cho Cục XBIPH.
    5. Đẩy mạnh xã hội hóa xuất bản: Hoàn thiện quy chế liên kết xuất bản (dựa trên kết quả khảo sát ý kiến về chủ trương xã hội hóa xuất bản tại Bảng tr. 141); huy động nguồn lực tư nhân tham gia khâu in và phát hành trong khi vẫn giữ quyền kiểm soát nội dung bản thảo tại nhà xuất bản.
    6. Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ: Đổi mới chương trình đào tạo biên tập viên, kỹ thuật viên xuất bản số; trang bị cơ sở hạ tầng an ninh mạng và nền tảng số dùng chung cho toàn ngành.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về phương diện lý luận và thực tiễn:

  • Về phương pháp tiếp cận: Đây là công trình áp dụng cách tiếp cận của khoa học chính sách công để nghiên cứu một cách hệ thống về xuất bản Việt Nam. Tác giả vận dụng các tiêu chí đánh giá một chính sách công tốt (tính hiệu lực, hiệu quả, tính đồng bộ, tính khả thi, sự công bằng) để xem xét toàn diện nội dung chính sách xuất bản thay vì chỉ phân tích khía cạnh pháp lý hay quản lý hành chính đơn thuần.
  • Về mặt lý luận:
    • Làm sáng tỏ nội hàm khái niệm chính sách xuất bản, khẳng định chính sách xuất bản là tập hợp các quyết định và hành động tương ứng nhằm cân bằng và phát huy đồng thời hai chức năng: văn hóa - tư tưởng và kinh doanh.
    • Phân tích cấu trúc nội dung chính sách xuất bản gồm 3 thành tố tương tác biện chứng: hệ thống mục tiêu, giải pháp và công cụ.
    • Xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá chính sách xuất bản và phân loại các nhóm nhân tố khách quan, chủ quan chi phối quá trình hình thành, thực thi chính sách.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh thực trạng về nội dung chính sách và kết quả thực hiện chính sách xuất bản tại Việt Nam qua số liệu thứ cấp (2008-2018, số liệu cập nhật 2012-2019) và dữ liệu điều tra thực địa 780 mẫu (thực hiện năm 2020).
    • Chỉ ra sự thiếu tương thích giữa các mục tiêu chính sách vĩ mô với các công cụ kinh tế, công cụ tài chính và kỹ thuật quản lý thực tế.
    • Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ từ điều chỉnh mục tiêu tổng thể, sửa đổi công cụ pháp luật, tài chính, sắp xếp lại bộ máy tổ chức cho đến mở rộng quy chế xã hội hóa và chuyển đổi số ngành xuất bản.
  • Kiến nghị ứng dụng: Cung cấp luận cứ khoa học để các cơ quan quản lý (Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục XBIPH) tham khảo trong việc xây dựng Chiến lược phát triển ngành xuất bản giai đoạn đến năm 2030, phục vụ việc sửa đổi Luật Xuất bản và hoàn thiện các quy định dưới luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được tác giả nêu trong văn bản:

  • Giới hạn về phạm vi nội dung: Luận án không đi sâu phân tích toàn bộ các công đoạn trong chu trình chính sách (như quy trình lập chương trình nghị sự, quy trình thông qua chính sách trên thực tế) mà tập trung nghiên cứu cấu trúc nội dung văn bản chính sách (mục tiêu, giải pháp, công cụ) và kết quả thực thi trên góc độ hệ thống.
  • Giới hạn về chuyên ngành hẹp: Trọng tâm nghiên cứu đặt vào lĩnh vực xuất bản. Hai lĩnh vực in và phát hành chỉ được khảo sát với vai trò là các khâu phối hợp, minh chứng cho kết quả của hoạt động xuất bản chứ không phân tích thành hai hệ thống chính sách độc lập.
  • Giới hạn về dữ liệu thời gian: Khảo sát thực địa được hoàn thành vào tháng 4 năm 2020 và chuỗi số liệu thứ cấp tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2012-2019, chưa bao quát đầy đủ những biến động sâu rộng của thị trường xuất bản trong các năm tiếp theo sau thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu chu trình tổ chức thực thi chính sách xuất bản tại các địa phương cụ thể hoặc ở từng loại hình nhà xuất bản đặc thù (nhà xuất bản chính trị, nhà xuất bản giáo dục, nhà xuất bản đại học).
    • Đi sâu nghiên cứu chính sách quản lý nhà nước đối với lĩnh vực in và mạng lưới phát hành sách trong bối cảnh thương mại điện tử xuyên biên giới.
    • Đánh giá tác động thực tế của các nền tảng trí tuệ nhân tạo và xuất bản số đối với vấn đề bảo hộ bản quyền tác phẩm sau năm 2020.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định và quản lý chính sách: Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Xuất bản, In và Phát hành có thể tham khảo trực tiếp khung tiêu chí đánh giá chính sách và các đề xuất về điều chỉnh mục tiêu, đổi mới cơ chế đặt hàng, quy chuẩn xuất bản số khi xây dựng chiến lược phát triển xuất bản đến năm 2030.
  • Đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp xuất bản: Ban giám đốc, biên tập viên tại các nhà xuất bản, các công ty phát hành sách có thể sử dụng dữ liệu đánh giá thực trạng để nhận diện xu hướng chuyển đổi mô hình hoạt động từ đơn vị hành chính sự nghiệp sang đơn vị kinh tế tự chủ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu trong các ngành Chính sách công, Quản lý công, Quản lý văn hóa, Báo chí - Xuất bản và Luật học; đặc biệt là phương pháp áp dụng lý thuyết phân tích chính sách công vào một ngành văn hóa cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về chính sách xuất bản?

Theo luận án, chính sách xuất bản là tập hợp các quyết định và hành động tương ứng của cơ quan có thẩm quyền hướng đến các chủ thể tham gia xuất bản, nhằm đưa xuất bản thực hiện tốt chức năng văn hóa - tư tưởng và chức năng kinh doanh của mình. Chính sách này bao gồm hệ thống mục tiêu, các giải pháp và công cụ (pháp luật, tài chính, tổ chức, nhân sự) tác động đến toàn bộ các khâu xuất bản, in và phát hành.

2. Hai đặc trưng bản chất của hoạt động xuất bản được luận án xác định là gì?

Luận án xác định hai đặc trưng bản chất:

  • Thứ nhất, xuất bản là hoạt động mang tính song trùng giữa "sáng tạo tri thức" và "sản xuất vật chất", thể hiện qua sự thống nhất giữa chức năng văn hóa, chính trị - tư tưởng với chức năng kinh tế. Xuất bản phẩm là hàng hóa đặc thù có giá trị tư tưởng và giá trị thương mại.
  • Thứ hai, xuất bản được thực hiện thông qua quy trình kỹ thuật gồm 3 khâu: tổ chức - biên tập bản thảo, nhân bản (in ấn) và phát hành, truyền bá sản phẩm đến xã hội.

3. Quy mô khảo sát thực địa của luận án được tiến hành với những nhóm đối tượng nào?

Điều tra bảng hỏi được tiến hành vào tháng 4 năm 2020 với tổng số 780 mẫu thuộc 4 nhóm đối tượng:

  • 80 mẫu: Cán bộ, chuyên viên thuộc Cục XBIPH, Bộ TTTT và Ban Tuyên giáo Trung ương.
  • 100 mẫu: Cán bộ, biên tập viên đang làm việc tại các nhà xuất bản.
  • 100 mẫu: Đội ngũ người sáng tạo tác phẩm (tác giả).
  • 500 mẫu: Độc giả (người tiêu dùng xuất bản phẩm).

4. Tại sao luận án không phân tích sâu chu trình hoạch định mà tập trung vào nội dung chính sách?

Theo giải trình phạm vi nghiên cứu, với giới hạn dung lượng của một luận án tiến sĩ và mục tiêu đánh giá trên góc độ hệ thống, tác giả lựa chọn tiếp cận nội dung chính sách xuất bản (gồm các quy định về mục tiêu, giải pháp, công cụ trong văn bản pháp luật) và đối chiếu với kết quả thực hiện thực tế để đánh giá theo các tiêu chí của một chính sách công tốt, thay vì phân tích từng bước thủ tục của chu trình hoạch định hành chính.

5. Những dữ liệu thứ cấp và chuỗi thống kê chính nào được sử dụng trong chương thực trạng?

Chương thực trạng sử dụng hệ thống bảng biểu thống kê ngành xuất bản: kết quả khảo sát đánh giá mục tiêu chính sách; kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012-2019; số liệu doanh thu hàng năm giai đoạn 2012-2019; nộp ngân sách và lợi nhuận sau thuế giai đoạn 2012-2019; tình hình đặt hàng xuất bản phẩm giai đoạn 2012-2016; kết quả xuất bản sách, số bản sách và mức hưởng thụ sách bình quân giai đoạn 2012-2019; kết quả khảo sát về chủ trương xã hội hóa xuất bản.

Kết luận

Luận án "Chính sách xuất bản ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Việt Hà là công trình chuyên khảo có đóng góp trong việc vận dụng lý luận khoa học chính sách công để phân tích hoạt động xuất bản tại Việt Nam. Công trình làm rõ bản chất "kép" của xuất bản phẩm, xây dựng khung khái niệm chính sách xuất bản và đánh giá hệ thống mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách dựa trên số liệu thực tế giai đoạn 2012-2019 cùng khảo sát thực địa năm 2020. Các kiến nghị và nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế quản lý ngành xuất bản giai đoạn đến năm 2030.