Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Chương 3: Mục tiêu, quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 8 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1. Phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nƣớc 1. Khái niệm nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đã đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau như: Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực, thể lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. [38] Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân có thể tham gia vào phát triển quốc gia một cách trực tiếp hoặc tiềm năng, theo cách hiểu này nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên”. [39] Theo tác giả Nguyễn Đăng Thành thì “Nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới”.TS Phạm Minh Hạc thì “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. [9] 9 Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển. Nguồn nhân lực không chỉ được xem xét đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng bao gồm cả yếu tố thể lực, trí lực và kĩ năng lao động, thái độ lao động và phong cách làm việc. Như vậy có thể hiểu: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hợp các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội”. Và trong nguồn nhân lực, chất lượng con người đóng vai trò quyết định, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ thì nguồn nhân lực có chất lượng cao, có vai trò quyết định trong sự phát triển nhanh và bền vững.
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Khái niệm nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước Hiểu một cách khái quát nhất:“Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước là hệ thống cán bộ, công chức hành chính và tổng thể các tiềm năng lao động của những con người làm việc trong bộ máy hành chính”. Trong đó: Theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức năm 2008, cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 10 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Tiềm năng lao động của con người bao gồm toàn bộ sức lao động (vốn kiến thức, kĩ năng làm việc, trình độ chuyên môn, đặc điểm tâm lý, các mối quan hệ…) của con người sử dụng trong quá trình làm việc. Tiềm năng lao động trở thành khả năng hiện thực nếu nó được sử dụng và quản lý đúng đắn. Ở nước ta hiện nay, nguồn nhân lực hành chính bao gồm toàn bộ tiềm năng lao động của con người (gọi dưới tên gọi là cán bộ công chức) được Chính phủ sử dụng để thực thi chức năng hành pháp của Nhà nước. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước Phát triển nguồn nhân lực là khái niệm trừu tượng, đã được nhiều tác giả nghiên cứu.
Dưới các cách tiếp cận khác nhau còn nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực. Theo quan niệm của tổ chức Liên Hợp Quốc: “Phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”. [38] Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào làm việc có hiệu quả, cũng như để thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhâ”n. 11 Đứng trên quan điểm xem “Con người là vốn - vốn nhân lực” Yoshihara Kunio cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân”.
Theo tác giả Phạm Thành Nghị cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phầm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội”. Mặc dù còn có những cách tiếp cận khác nhau về phát triển nguồn nhân lực xong có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực là hành vi của tổ chức nhằm tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị con người. Do đó, phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi sự quan tâm và can thiệp của nhà nước bằng các phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Phát triển nguồn nhân lực hành chính là quá trình nâng cao năng lực của cán bộ, công chức hành chính về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia.
Phát triển nguồn nhân lực hành chính luôn luôn là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Từ những luận điểm trình bày trên, có thể khái luận và đưa ra khái niệm về phát triển nguồn nhân lực hành chính: “Phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước là quá trình các chủ thể tác động đến nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước làm biến đổi cả về số 12 lượng và chất lượng cho nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính trên tất cả các mặt thể lực, trí lực, tâm lực cùng với việc dự báo những biến đổi hiệu quả về cơ cấu nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước”. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm này thực chất là đề cập đến vấn đề số lượng, chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia, một địa phương: - Biến đổi về mặt số lượng: làm tăng số lượng nhân lực cơ học thông qua các chính sách dân số, điều tiết cơ cấu vùng miền, cơ cấu sản xuất. - Biến đổi về mặt chất lượng: gia tăng sức khỏe, thể lực, chiều cao, cân nặng, cân đối trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kĩ thuật, kĩ năng nghề nghiệp, lối sống, đạo đức tác phong, bản lĩnh hội nhập… - Biến đổi về cơ cấu: làm cân đối cơ cấu nguồn nhân lực cho phù hợp giữa các vùng miền, lứa tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, khoa học quản lý.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nƣớc 1.