CHƯƠNG 1 CƠ S LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1. Cán bộ cấp xã Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Cán bộ: 1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước – cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học.
Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ” [37, tr. Như vậy, theo định nghĩa này, cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn hay có chức vụ trong cơ quan Nhà nước hay một tổ chức. Luật cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở thành phố, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp thành phố), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xã bao gồm các chức vụ sau: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; 9 b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Công chức cấp xã Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định, Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp thành phố; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; 10 c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hoá - xã hội 1. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Đội ngũ cán bộ, công chức có thể hiểu là tập hợp lực lượng cán bộ, công chức trong một tổ chức nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà tổ chức giao phó.
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là tập hợp lực lượng CB, CC được bầu cử, được tuyển dụng, bổ nhiệm hay được phân công làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong cơ quan của Đảng trực thuộc của cấp xã. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là tập hợp tất cả những đặc điểm, thuộc tính của từng cán bộ, công chức cấp xã phù hợp với cơ cấu, đáp ứng được yêu cầu theo nhiệm vụ và chức năng của cơ quan, đơn vị; sự phối kết hợp hoạt động trong thực thi nhiệm vụ chung nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu chung một thời điểm nhất định của địa phương. Chất lượng công chức là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhau: sự phối kết hợp trong công tác, triển khai nhằm hoàn thành nhiệm vụ; giúp đỡ, ủng hộ nhau trong cả quá trình lao động.
Chất lượng CBCC cấp xã trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có số lượng, cơ cấu hợp lí so với nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra. Tính hợp lí được biểu hiện ở sự tinh giảm ở mức tối ưu, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, trong đó mỗi cá nhân phát huy hết năng lực, sở trường của mình, đảm đương tốt công việc được giao. Đội CBCC cấp xã quá đông 11 sẽ gây trì trệ trong công việc, trong điều hành, gây ra sự dư thừa, lãng phí nhân lực…Tính hợp lí về số lượng biểu hiện sự cân đối và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của địa phương, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Sự hợp lí trong cơ cấu cán bộ sẽ tạo sức mạnh tổng hợp, tạo nên tính năng động, sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả cao trong công việc.
Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Công chức cấp xã là những người làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của BND cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp BND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch BND cấp xã giao. Công chức xã là người trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo BND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện tiếp xúc với nhân dân, phục vụ nhân dân, thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được BND cấp xã giao. Như vậy, cán bộ, công chức là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Với vị trí quan trọng như vậy, vai trò của CBCC cấp xã được thể hiện qua các mối quan hệ: với đường lối, chính sách và pháp luật; với bộ máy chính quyền; với công việc và với quần chúng nhân dân, cụ thể ở các phương diện sau: Một là, hầu hết đội ngũ công chức xã, phường, thị trấn đều là người địa phương, sinh sống tại địa phương, có quan hệ dòng tộc và gắn bó với người dân tại địa phương đó.
Công chức chính quyền cấp xã là những người xuất phát từ cơ sở, họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giải quyết các công việc của nhà nước. Hai là, CBCC cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước cho nhân dân, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách, pháp luật đó trong cuộc sống. Là người tiên phong gương mẫu trong việc thực hiện chính sách pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở 12 khu dân cư, CBCC cấp xã cũng là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân. Ba là, CBCC cấp xã là người am hiểu các phong tục tập quán, truyền thống dân tộc của địa phương, họ là người tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở, là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư.
Vì vậy, CBCC cấp xã phải mềm dẻo, linh hoạt khi tiếp xúc, làm việc với dân, phải đáp ứng nhu cầu đòi hỏi đa dạng của người dân sao cho vừa đúng pháp luật, vừa phù hợp với truyền thống và điều kiện của mỗi người dân, mỗi địa phương. Bốn là, CBCC cấp xã là những người gần dân nhất, có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật; là lực lượng đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Thông qua hoạt động của cán bộ, công chức cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1.
Nâng cao thể lực Thể lực là tình trạng sức khỏe của mỗi con người, biểu hiện ở sự phát triển bình thường và có khả năng lao động. Thể lực là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiễn của con người, có thể đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình làm việc, đảm bảo cho con người có khả năng học tập và lao động lâu dài.