Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Quan niệm về cán bộ, công chức, dân tộc thiểu số và cán bộ dân tộc thiểu số. Quan niệm về cán bộ Văn bản hợp nhất số 25/VBHN-VPQH, ngày 16/12/2019 của Văn Phòng Quốc hội về “Luật Cán bộ, công chức” (tại Điều 4 khoản 1, khoản 2, khoản 3) quy định cụ thể như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Quan niệm về công chức Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng 12 Luan van đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Quan niệm về dân tộc thiểu số Theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc thì “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. Trong Đại từ điển tiếng việt “dân tộc thiểu số” được định nghĩa khá cô đọng, đó là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống trong vùng hẻo lánh, ngoại vi vùng ít phát triển kinh tế xã hội.
Thực tiễn ở nước ta có 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc kinh là dân tộc chiếm số đông, còn lại 53 dân tộc anh em có số dân ít hơn gọi là “dân tộc thiểu số”. Hiểu theo nghĩa chung nhất cán bộ dân tộc thiểu số: là chỉ những người có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số, tham gia công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có đầy đủ tư cách năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị. Quan niệm về cán bộ dân tộc thiểu số Từ khái niệm cán bộ dân tộc thiểu số là một khái niệm kép, một tập hợp của hai khái niệm “cán bộ” và “dân tộc thiểu số”. Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về cán bộ dân tộc thiểu số, như sau: “cán bộ dân tộc thiểu số” là những cán bộ được quy định tại Luật cán bộ, công chức đang công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Trong một số văn kiện của Đảng và Nhà nước, cụm từ “cán bộ dân tộc thiểu số” được thay 13 Luan van thế bằng cụm từ “cán bộ là người dân tộc thiểu số”. Xét về ngữ nghĩa, đây là hai cụm từ đồng nghĩa. Xét về nội hàm khái niệm, đây là hai khái niệm có cùng một nội hàm, có thể thay thế cho nhau. Khái niệm về điều động, luân chuyển cán bộ.
Theo Quy định số 98-QĐ/TW, ngày 07/10/2017 của Bộ Chính trị Quy định về “luân chuyển cán bộ” tại Điều 3, khoản 1 và khoản 2 cụ thể như sau: - Luân chuyển cán bộ: là việc cử có thời hạn cán bộ trẻ, có năng lực, triển vọng, trong quy hoạch từ Trung ương về địa phương, từ cấp trên xuống cấp dưới và giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nhằm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán bộ và làm cơ sở lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ. - Điều động cán bộ: là việc phân công, bố trí, chuyển đổi vị trí công tác có thời hạn hoặc không xác định thời hạn đối với cán bộ ở các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị (không phân biệt giữ chức vụ hoặc không giữ chức vụ) theo quy định của Đảng và Nhà nước, theo kế hoạch hoặc theo yêu cầu công tác của cơ quan có thẩm quyền. Thời gian luân chuyển: Ít nhất là 3 năm (36 tháng) đối với một chức danh (trừ chức danh kiêm nhiệm). Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Bố trí, sử dụng cán bộ Việc bố trí, sử dụng cán bộ còn mang tính dân chủ hình thức, một số nơi sử dụng cán bộ còn tùy tiện, chắp vá, không trên cơ sở chọn đúng người có đủ tiêu chuẩn, chức danh; không vì việc mà đặt người, bố trí cán bộ còn theo cảm tính hoặc nặng về cơ cấu, nên dẫn đến tình trạng: đào tạo một đằng nhưng sử dụng một nẻo, tức là việc bố trí sử dụng không gắn với chuyên môn đào tạo, tựa như câu ví của Hồ Chủ tịch: “Thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao”. 14 Luan van Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh, cần phải: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ. Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ. Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài.
Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp 1. Vị trí, vai trò của cán bộ và cán bộ dân tộc thiểu số.Ăngghen là những người đặt nền móng cho vấn đề cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ của giai cấp vô sản.Ăngghen đó là muốn thực hiện tư tưởng cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn. Con người sử dụng lực lượng thực tiễn được hiểu là những người định hướng, dẫn dắt hành động của quần chúng vô sản. Đó là những đại biểu ưu tú nhất, lãnh tụ của phong trào công nhân đã được giác ngộ lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học và là những người cộng sản đầu tiên của giai cấp vô sản.
Lực lượng thực tiễn là toàn bộ quần chúng vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột đang hành động với những hình thức khác nhau trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản và các giai cấp bóc lột khác. Kế thừa tư tưởng của C.Lênin cho rằng, mỗi giai cấp muốn giành được quyền thống trị thì trong hàng ngũ của mình phải có những nhà lãnh đạo có khả năng dẫn dắt phong trào và khi đã có đường lối đúng thì cán bộ là khâu quyết định để biến đường lối đó thành hiện thực cách mạng. Do đó, trên lĩnh vực công tác của cán bộ nhà nước, đặc biệt là những chức vụ chủ chốt, V.Lênin nhấn mạnh quyền quyết định của Đảng. Theo Lênin, chừng nào một đảng cầm quyền còn quản lý, chừng nào đảng ấy còn phải giải quyết tất cả mọi vấn đề về những sự bổ nhiệm khác nhau, thì không 15 Luan van thể để có tình trạng là việc bổ nhiệm các chức vụ quan trọng nhất trong nhà nước lại do một đảng không lãnh đạo tiến hành.
Vận dụng học thuyết Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ. Người coi cán bộ như là “cái gốc” của mọi công việc, là “dây chuyền” của bộ máy; nếu dây chuyền không tốt, không chạy, thì động cơ dù tốt, dù chạy thì toàn bộ máy cũng bị tê liệt. Người chủ trương phát triển đội ngũ cán bộ thông qua quy chế tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, quản lý sử dụng có hệ thống, bài bản, toàn diện và chuyên sâu; đề ra nhiều chính sách cụ thể để quy tụ nhân tài, lôi kéo người tâm đức… Để làm được như vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý ngoài tiêu chuẩn khung như thạo về chính trị, giỏi về chuyên môn còn phải biết dùng người. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em liên kết chặt chẽ với nhau thành một cộng đồng chung - cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt niềm tin sâu sắc vào bản chất tốt đẹp và tiềm năng trong đồng bào và cán bộ dân tộc thiểu số. Để phát triển kinh tế, văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cần phải nhận rõ trách nhiệm của mình đối với vùng có đồng bào dân tộc thiểu số và chú trọng hơn nữa đến vấn đề cán bộ và cán bộ dân tộc thiểu số, phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi. Người chỉ rõ, con người miền núi sẽ làm chủ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa miền núi.
Để tổ chức thực hiện được điều đó, người cán bộ dân tộc thiểu số cần phấn đấu đạt được những phẩm chất, tiêu chuẩn của cán bộ. Trong vấn đề này, Hồ Chí Minh cũng đề cập đến việc kết hợp cán bộ tại chỗ với cán bộ do cấp trên điều về. Người cho rằng, chỉ có cán bộ phái đến và cán bộ địa phương đoàn kết chặt chẽ và chỉ có cán bộ địa phương ngày 16 Luan van càng nhiều, thì nền tảng của Đảng mới phát triển vững vàng. Bởi lẽ, cán bộ phái đến, trình độ thường cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn.