Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Thành phố Hồ Chí Minh 1. Cán bộ, công chức cấp xã ở Thành phố Hồ Chí Minh * Các xã ở Thành phố Hồ Chí Minh Các xã ở Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh có 5 huyện với 58 xã.
Huyện Củ Chi có 20 xã và 1 thị trấn. Huyện Hóc Môn có 11 xã và 1 thị trấn. Huyện Bình Chánh có 15 xã và 1 thị trấn Huyện Nhà Bè có 6 xã và 1 thị trấn. Huyện C n Giờ 6 xã và 1 thị trấn.
Hệ thống chính trị ã được tổ chức và hoạt động theo qu định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các xã ở Thành phố Hồ Chí Minh có truyền thống về lịch sử văn hoá, đấu tranh cách mạng. Nhìn chung kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao và phát triển tương đối toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Tỷ lệ thất nghiệp giảm d n, thời gian sử dụng lao động ở nông thôn tăng l n.
Đời sống nh n d n được cải thiện rõ rệt, mức sống của gia đình có công với cách mạng, các đối tượng chính sách được nâng lên cả về vật chất và tinh th n. Phong tr o đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình có công với nước, người cao tuổi, người già neo đơn, trẻ mồ côi cơ nhỡ, người khuyết tật, người nghèo được đẩy mạnh. Một số ã trước đ thuộc diện khó khăn na đã thoát ra khỏi khó khăn, nhiều ã vươn l n th nh khá, đã oá ong nh tranh tre, nứa, lá dột nát cho hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 0,5 %. Đi đôi với tăng trưởng kinh tế, hệ thống chính trị các xã ở Thành phố Hồ Chí Minh ng c ng được xây dựng vững mạnh.
Tổ chức cơ sở đảng, Luan van 13 chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đo n thể nhân dân hoạt động ngày càng có hiệu quả thiết thực. Quy chế dân chủ được triển khai thực hiện ở các khu dân cư. Cấp ủy, chính quyền cơ sở nhận thức đ đủ hơn về vai trò của các tổ chức đo n thể trong thực hiện dân chủ ở khu d n cư. Bên cạnh sự phát triển tương đối toàn diện, các xã ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn có những khó khăn bức xúc về kinh tế, chính trị, văn hoá, ã hội.
Sự phát triển không đồng đều giữa thành thị với nông thôn tạo nên sự chênh lệch về thu nhập và mức sống trong một bộ phận không nhỏ cộng đồng d n cư đặc biệt là ở lĩnh vực nông nghiệp nông thôn thu n nông, nơi kinh tế chậm phát triển, sản xuất gặp nhiều khó khăn. Từ đó l m nảy sinh nhiều bức xúc xã hội. Vùng nông nghiệp, nông thôn, diện tích đất canh tác bị thu hẹp do xây dựng các khu công nghiệp đã tạo ra số lao động nông nghiệp dư thừa, không có việc làm. Cùng với những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp, các xã ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng l nơi còn nhiều phong tục, tập quán lạc hậu từ cách nghĩ, cách l m đến các thói quen trong sinh hoạt văn hoá chưa theo kịp sự phát triển của xã hội.
Nếp nghĩ, thói quen “lệ làng mạnh hơn phép nước”, gia trưởng độc đoán còn khá nặng nề, còn nhiều thủ tục trong việc cưới, tang, lễ hội. Một số bức xúc xã hội chưa được chú trọng giải quyết như chất lượng giáo dục - đ o tạo còn hạn chế, tỷ lệ lao động qua đ o tạo nghề còn thấp, thiếu việc làm còn cao, nhất là ở những nơi chu ển đổi mục đích sử dụng đất. Nhiều nơi bị ô nhiễm môi trường kéo dài, chậm được giải quyết. Trình độ dân trí và phẩm chất, phong cách công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, đo n thể nh n d n ã chưa đáp ứng kịp yêu c u nhiệm vụ.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, nhất là ở cấp cơ sở, một số vụ việc còn để khiếu kiện đông người vượt cấp, kéo dài; an ninh nông thôn ở một số khu vực còn tiềm ẩn những mâu thuẫn phức tạp, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông những năm g n đ có chiều hướng gia tăng. Luan van 14 Trình độ dân trí, dân chủ, giác ngộ chính trị của nhân dân ở xã rất khác nhau, nhu c u, lợi ích rất đa dạng, phức tạp. Cộng đồng d n cư gồm mọi t ng lớp nh n d n, đa dạng, phức tạp về trình độ văn hoá, lứa tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, ngành nghề. Nhìn chung, trình độ dân trí, dân chủ, ý thức về quyền làm chủ trong nhân dân ngày một cao.
Ở các xã Thành phố Hồ Chí Minh, ngày càng có nhiều cán bộ, đảng vi n đã nghỉ hưu sinh sống. Đó l những người được đ o tạo, có trình độ, từng trải, có bề dày kinh nghiệm. Bên cạnh đó l các bộ phận d n cư thu n nông, buôn bán, sản xuất kinh doanh ở các ngành nghề và các loại hình dịch vụ rất đa dạng. Tuy có sự phát triển nhanh về kinh tế, xã hội nhưng vẫn còn một bộ phận lớn d n cư trình độ dân trí thấp, còn chịu ảnh hưởng nặng của những phong tục tập quán lạc hậu.
* Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Thành phố Hồ Chí Minh. Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, thông qua, định nghĩa cán bộ, công chức như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được b u cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nh nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn thuộc quận huyện, trong biên chế v hưởng lương từ ngân sách nh nước. Cán bộ xã là công dân Việt Nam, được bố trí các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đo n Thanh ni n Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà Luan van 15 nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Qu n đội nhân dân mà không phải l sĩ quan, qu n nh n chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải l sĩ quan, hạ sĩ quan chu n nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nh nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế v hưởng lương từ ng n sách nh nước; đối với công chức trong bộ má lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo qu định của pháp luật.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ. Công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ hu trưởng Quân sự; Văn phòng - thống k ; Địa chính - nông nghiệp - xây dựng v môi trường; Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội. Cán bộ, công chức cấp xã bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp ã. Căn cứ v o điều kiện kinh tế - xã hội, qu mô, đặc điểm của địa phương, Chính phủ qu định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp ã.
Như vậy đội ngũ cán bộ, công chức không bó hẹp chỉ là những cán bộ hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, cán bộ chuyên trách trong các cơ quan Đảng mà còn cán bộ hoạt động ở bất kể lĩnh vực nào trong bộ má Nh nước, các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị đất nước theo qu định của Hiến pháp. * Nhiệm vụ đội ngũ cán bộ cấp xã. - Chỉ đạo, quán triệt, cụ thể hoá và tổ chức cho nhân dân trong xã chấp hành và thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nh nước, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh của Thành ủy, huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố, huyện. Luan van 16 - Nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hoá nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, nắm chắc tình hình của ã, đề xuất báo cáo chủ trương, biện pháp để Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nh n d n ã ác định nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn xã.
Phổ biến, quán triệt, chỉ đạo, quản lý và tổ chức cho nhân dân trong xã thực hiện thắng lợi các nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh tr n địa bàn xã. Tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, vận động Nhân d n. Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, giải quyết kịp thời các vấn đề tư tưởng nảy sinh trong các t n lớp Nhân dân, tạo ra sự đồng thuận xã hội đối với đường lối, chính sách của Đảng v Nh nước. Xây dựng, củng cố niềm tin của Nhân dân trong xã vào mục ti u, lý tưởng, sự nghiệp đổi mới, sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nh nước.
- Đại diện v chăm lo bảo đảm, n ng cao đời sống vật chất tinh th n của các t ng lớp nhân dân trong xã.