phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 04 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhân lực trong tổ chức công; Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nhân lực tại Sở Công Thƣơng tỉnh Lạng Sơn; Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhân lực tại Sở Công Thƣơng tỉnh Lạng Sơn. 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC CÔNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về công tác quản lý nhân lực Trong những năm qua, vấn đề nhân lực và nhân lực trong tổ chức công đã có công trình nghiên cứu của nhiều tác giả.
Có công trình nghiên cứu vấn đề ở tầm vĩ mô, cũng có công trình nghiên cứu vi mô về một lĩnh vực quản lý hay tại một cơ quan, đơn vị cụ thể. Đa số các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân lực, quản lý nhân lực (trong đó có nhân lực trong tổ chức công), đƣa ra những kiến nghị và các định hƣớng, giải pháp để hoàn thiện vấn đề này, cụ thể: - Đề tài nghiên cứu “Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” của TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phƣơng thực hiện, năm 2004; Đây là công trình nghiên cứu dựa trên các quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí ngƣời cán bộ cách mạng, cũng nhƣ yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; từ những bài học kinh nghiệm về tuyển chọn, sử dụng nhân tài trong suốt quá trình lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc ta, cũng nhƣ kinh nghiệm xây dựng nền hành chính chính quy, hiện đại của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới để xác định yêu cầu và tiêu chuẩn của công chức, viên chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
- Cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức công” của các tác giả Trần Thị Thu và Vũ Hoàng Ngân, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2011; cuốn sách đã phân tích những kiến thức cơ bản về quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức công. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Kinh nghiệm quản lý công chức theo vị trí việc làm của các nước trên thế giới và vận dụng vào Việt Nam” do TS. Phạm 4 z Thu Hằng, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nội vụ chủ trì thực hiện năm 2013; Đề tài nghiên cứu và đƣa ra kinh nghiệm xác định vị trí việc làm đối với công chức, viên chức của các nƣớc và vận dụng vào thực hiện tại các cơ quan hành chính nƣớc ta. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “cơ sở khoa học xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng theo vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch và chức vụ quản lý” do TS.
Nguyễn Xuân Dung, Vụ Đào tạo bồi dƣỡng Bộ Nội vụ chủ trì thực hiện năm 2012; Đề tài nghiên cứu và đƣa ra cơ sở khoa học xây dựng chƣơng trình đào tạo bồi dƣỡng theo vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch và chức vụ lãnh đạo quản lý. - Luận văn Thạc sĩ đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại sân bay quốc tế Nội Bài” của tác giả Nguyễn Việt Hà, Học viện Bƣu chính viễn thông 2012; Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề về cơ sở lý luận của quản trị nguồn nhân lực, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại sân bay. - Bài viết của Th.S Thạch Thọ Mộc, Viện khoa học tổ chức nhà nƣớc, Bộ nội vụ “Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay”, (2014); Bài viết đã đề cập các giải pháp đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá cán bộ, công chức, viên chức nhƣ ứng dụng công nghệ tin học trong thi tuyển, phỏng vấn bổ sung sau khi thi; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và nâng cao trách nhiệm ngƣời đứng đầu trong đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. - Bài viết của TS.
Nguyễn Thị Hồng Hải, Khoa Tổ chức và quản lý nhân sự, Học viện Hành chính “Tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước”; Bài viết đã phân tích vai trò, ý nghĩa quan trọng của tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức, đƣa ra các giải pháp để tạo động lực. - Bài viết của TS. Vũ Hoàng Công, Chánh Văn phòng Đảng ủy, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh “Học tập tinh thần sâu sát thực tiễn trong công tác quản lý cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; Bài viết phân tích về ý nghĩa lời dạy của Bác Hồ về chống sự quan liêu trong quản lý cán bộ, khuyến nghị ngƣời lãnh đạo cần đi sâu, đi sát, thƣờng xuyên kiểm tra, phê bình để giúp cấp dƣới phát huy ƣu điểm, trách mắc phải khuyết điểm. 5 z - Cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản khoa học, năm 2004 do Phạm Thanh Nghị và Vũ Hoàng Ngân chủ biên.
Cuốn sách đã phân tích các yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực ở nƣớc ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; phân tích thực trạng và các chính sách phát triển nguồn nhân lực và những kinh nghiệm quản lý nguồn nhân lực hành chính nhà nƣớc. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Những công trình, đề tài khoa học, luận văn, bài viết… nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về nguồn nhân lực, quản lý nguồn nhân lực nói chung trong đó có quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công. Hệ thống các giải pháp, khuyến nghị tƣơng đối đầy đủ, toàn diện về các nội dung cơ bản nhƣ xây dựng đề án vị trí việc làm, tuyển dụng, đánh giá cán bộ, đào tạo bồi dƣỡng… Nhiều giải pháp rất thiết thực có thể áp dụng vào công tác quản lý nhân lực của cả nƣớc, tỉnh, cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu ở tầm vĩ mô, giải pháp đƣa ra chủ yếu là những định hƣớng rất lớn cần nhiều cơ quan đơn vị, nhiều nguồn lực mới giải quyết đƣợc.
Việc nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phát triển, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực hoặc viết chung về nguồn nhân lực. Chƣa có công trình, đề tài, luận văn, bài viết nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhân lực trong tổ chức công hay nhỏ hơn là cơ quan hành chính nhà nƣớc thuộc UBND cấp tỉnh nhƣ mô hình tổ chức của Sở Công Thƣơng, đây là bộ phận nhỏ quan trọng cấu thành nên tổ chức công, vì vậy tạo ra khoảng trống trong nghiên cứu, lý luận và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn quản lý. Do đó trong luận văn này, tác giả nghiên cứu các nội dung quản lý nhân lực dựa trên cơ sở của khoa học quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công. Bằng kiến thức đã đƣợc học của chuyên ngành quản lý kinh tế và kinh nghiệm thực tế trong công tác, tác giả sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý nhân lực tại Sở Công Thƣơng, từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất những giải 6 z pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhân lực tại Sở Công Thƣơng, phần nào có những phân tích để bổ sung làm rõ khoảng trống nghiên cứu nêu trên.
Cơ sở lý luận về quản lý nhân lực trong tổ chức công 1. Nhân lực trong tổ chức công 1. Nhân lực Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Nhân lực có ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh.
Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con ngƣời có sức lao động. Chất lƣợng nhân lực: Là yếu tố tổng hợp của nhiều bộ phận nhƣ trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, năng lực thẩm mỹ… của ngƣời lao động (trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng). Nhân lực trong tổ chức công Tổ chức công: Là những cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, địa phương, các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và các doanh nghiệp của Nhà nước cung cấp các dịch vụ công.
Nhân lực trong tổ chức công: Là những người làm việc trong tổ chức công, trong đó cán bộ, công chức, viên chức là nhân lực chủ yếu. - Cán bộ: là khái niệm đƣợc sử dụng nhiều trong các văn bản nhà nƣớc và thông dụng trong ngôn ngữ đời thƣờng ở nƣớc ta từ khá lâu. Đây là khái niệm chung để chỉ tất cả những ngƣời làm trong các cơ quan đảng, nhà nƣớc, mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội và thậm chí cả các doanh nghiệp, với đặc điểm chung là có hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. 7 z Luật Cán bộ, công chức đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Khoản 1 Điều 4 quy định về cán bộ: “ Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”. - Công chức: Công chức đƣợc hình thành gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc.