CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ CỦA VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niêm chính sách công Chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những góc độ khoa học khác nhau theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm này, cụ thể như: Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và không làm. Cách tiếp cận này thì các hoạt động mà chính quyền không làm hoặc làm sẽ có sự tác động, làm ảnh hưởng lâu dài đến nhân dân thì mới là chính sách công.
Như vậy có thể nói không phải tất cả những công việc mà chính quyền làm hoặc không làm đều là chính sách công. Chính sách công là chính sách do nhà nước đưa ra nhằm xác định nhà nước sẽ làm những việc gì, tại sao nhà nước phải làm, mục tiêu của việc làm đó là gì. Xu hướng chung là nhà nước ít làm những việc mà xã hội dân sự có thể làm, trong khi công dân với tư cách là người nộp thuế lại muốn nhà nước làm những điều họ mong muốn. Trên Tạp chí Kinh tế và dự báo (số tháng 1 năm 2012) do tác giả Đặng Ngọc Lợi viết cho rằng: chính sách công là chính sách của nhà nước, của Chính phủ là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước.
Tác giả Lê Chi Mai: chính sách công có những đặc trưng cơ bản như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định mà còn là những hành vi, hành động thực tiễn trong thực hiện chính sách; chính sách công tập trung xử lý, giải quyết những vấn đề phát sinh, đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục đích xác định; chính sách công bao gồm nhiều quyết định chính sách có mối quan hệ, liên quan lẫn nhau. Trong bài viết của mình tác giả Lê Chi Mai còn đưa ra khái niệm “chính sách 7 tư” là chính sách do các cơ quan, tổ chức ban hành nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nội bộ của cơ quan, tổ chức, không có hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi của cơ quan, tổ chức. Như vậy, các quan niệm trên đã nêu ta thấy có những điểm tương đồng trong các quan niệm về chính sách công như: tính hành động thực tiễn, tính cộng đồng, tính nhà nước (xem quá trình triển khai, thực hiện là một phần của chính sách công). Như vậy, các quan niệm về chính sách công giữa các nhà nghiên cứu có những điểm nhấn khác nhau.
Như vậy trong luận văn này, chính sách công theo tác giả được hiểu là: kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có mối liên quan với nhau, bao gồm trong đó có định hướng mục tiêu và cách thức xử lý, giải quyết những vấn đề công trong xã hội. Khái niệm này ta thấy đặc trưng của chính sách công là do nhà nước xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định, bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành vi của các tổ chức, cá nhân phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề nỗi cộm, phát sinh trong xã hội. Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, trước tiên chính sách đặt ra phải tồn tại trong thực tế xã hội, có nghĩa là chính sách phải thể hiện được vai trò định hướng thực hiện, hành động theo các mục tiêu nhất định đã đề ra. Như vậy, để một chính sách công tồn tại phải là tổng thể những mối quan hệ có sự tác động mang tính tích cực của hệ thống thể chế do nhà nước ban hành và tinh thần tự chủ, sáng tạo, nghiêm túc thực hiện của các chủ thể tham gia xử lý, giải quyết vấn đề chính sách trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định.
Đồng thời được bảo đảm của nhà nước thể hiện bằng các nguồn lực con người, môi trường văn hóa, chính trị, tài chính và pháp lý. Khái niệm chính sách phát triển cán bộ * Cán bộ Theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trong các văn kiện thì: Cán bộ bao gồm tất cả cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các tổ chức của hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công 8 lập; những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và những người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong các tổ chức thuộc phạm vi công tác tổ chức và cán bộ của Đảng. Hiện nay, đội ngũ cán bộ gồm bốn loại chính: - Cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. - Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng vũ trang.
- Cán bộ tham mưu, khoa học, chuyên gia trong các cơ quan tham mưu, các đơn vị sự nghiệp công lập. - Cán bộ quản lý sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nhà nước. Theo Luật Cán bộ, công chức thì cán bộ bao gồm những người do bầu cử, đề bạt, bổ nhiệm để giữ một chức vụ nhất định trong cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Đặc điểm của cán bộ là những người được bầu cử, bổ nhiệm, đề bạt để giữ một chức vụ nhất định trong cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị nước ta.
Đó là những người làm công tác lãnh đạo, quản lý của một tổ chức trong hệ thống chính trị, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [20, tr. Theo quy định trên, tiêu chí để xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí quy định chung của cán bộ, công chức được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan trong hệ thống chính trị thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.
9 * Chính sách phát triển cán bộ Chính sách phát triển cán bộ là tất cả hệ thống các chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với CB; là công cụ, các giải pháp để xây dựng đội ngũ CB chất lượng, đồng bộ, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi thời kỳ cách mạng. Chính sách phát triển cán bộ gồm: chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, chính sách đảm bảo lợi ích, chính sách bồi dưỡng, đào tạo và động viên tinh thần cán bộ. Chính sách phát triển cán bộ được xem là một trong những chính sách quan trọng của Đảng, Nhà nước, nó có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Chính sách là do con người tạo ra, nhưng nó lại tác động mạnh mẽ đến đời sống, hoạt động của con người.
Chính sách có thể là động lực thúc đẩy tính tích cực, mở đường cho khả năng sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của con người, nhưng cũng nó cũng có thể làm kiềm hãm những hoạt động, làm mờ đi tài năng, sáng tạo của họ. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng chất lượng CB luôn gắn liền với hệ thống chính sách CB, nó còn góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, bảo đảm làm cho mọi người có cuộc sống phát triển hài hòa, bình đẳng. Khái niệm thực hiện chính sách phát triển cán bộ Thực hiện chính sách phát triển cán bộ là một khâu cấu thành chính sách toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. Tổ chức thực hiện phát triển chính sách là trung tâm kết nối giữa các khâu trong thực hiện chính sách thành một hệ thống.
Vì vậy nếu chúng ta ban hành được chính sách có chất lượng, đúng là rất quan trọng, nhưng việc triển khai thực hiện chính sách đảm bảo đúng và có hiệu quả còn quan trọng hơn. Khi đã ban hành chính sách đúng mà không thực hiện hay thực hiện mà không đúng với mục đích, ý nghĩa của chính đó thì sẽ không có ý nghĩa, trở thành khẩu hiệu suông, không những vậy mà nó còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể ban hành, hoạch định chính sách và sẽ dẫn đến sự thiếu niềm tin, tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân, gây dư luận không tốt đối với nhà nước. Không những vậy nó 10 còn ảnh hưởng không tốt về mặt chính trị, xã hội, tạo sự bất ổn trong công tác quản lý, lãnh đạo, điều hành của nhà nước. Qua quá trình triển khai, thực hiện chính sách mới biết được chính sách đó có hiệu quả, đi vào thực tế hay không.
Đồng thời qua thực tiển thực hiện chính sách sẽ góp phần bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn xã hội, đáp ứng sát đúng với yêu cầu của cuộc sống hơn. Bên cạnh đó, việc đánh giá, phân tích một chính sách (mức độ xấu, tốt) chỉ có số liệu, có sức thuyết phục, cơ sở đầy đủ sau khi được thực hiện. Thực tiễn là kết quả, chân lý thực hiện chính sách phát triển là cơ sở đánh giá, là thước đo một cách chính xác, chất lượng, khách quan và hiệu quả của việc thực hiện một chính sách. Việc chuyển tải chính sách vào thực tiễn cuộc sống xã hội là một quá trình gian nan, phức tạp đầy biến động, nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách rút ra kinh nghiệm để đưa ra được các nhiệm vụ, giải pháp hữu hiệu trong thực thi chính sách phát triển.
Thực hiện chính sách phát triển cán bộ 1.