Chương 1: Tổng Quan Vấn Đề Nghiên Cứu. Chương 2: Phạm vi, đối tượng, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Cơ Sở Lý Luận Về Chính Sách Marketing Nhằm Thu Hút Khách Hàng Tại Khách Sạn Thắng Lợi Hà Nội. Chương 4: Thực Trạng Chính Sách Marketing Nhằm Thu Hút Khách Hàng Tại Khách Sạn Thắng Lợi Hà Nội.
Chương 5: Giải Pháp Marketing Nhằm Thu Hút Khách Hàng Tại Khách Sạn Thắng Lợi Hà Nội. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU. - Ý nghĩa khoa học: + Nghiên cứu khoa học giúp sinh viên sớm hình thành khả năng quan sát, nhạy cảm, thực tế, nảy sinh ý tưởng khoa học mới: Cập nhật tri thức, nâng cao sự hiểu biết và khả nắng nhận thức, sớm sớm đạt chuẩn về trí tuệ và tự đổi mới về phương pháp học tập. Kết quả nghiên cứu khoa học giúp cho sinh viên nâng cáo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ làm cho nội dung học tập, nghiên cứu phong phú, mang tính thực tiễn cao, đáp ứng được nhu cầu của người học và của xã hội về chất lượng nhân lực.
+ Kết quả nghiên cứu khoa học giúp hình thành tác phong lầm việc khoa học, tiếp cận phương pháp biện chứng logic. + Giúp sinh viên vận dụng lí luận thực tiễn, phướng pháp lí luận từ sách vở, vốn sống trải nghiệm để làm khoa học. + Nghiên cứu khoa học giúp sinh viên mở rộng các mối quan hệ xã hội, 10 + Phát triển những định hướng kinh doanh mới đối với toàn bộ những lĩnh vực hoạt động có trong đời sống và xã hội nhằm nâng cao về trình độ văn minh và nâng cao năng suất đối với tất cả những lĩnh vực hoạt động. + Nghiên cứu khoa học giúp mang tới hiệu quả kinh tế cao, từ đó làm tăng trưởng kinh tế trong xã hội.
+ Là công cụ nhằm xây dựng văn hóa nghiên cứu và khích lệ chất lượng, hướng đến hiệu quả trước mắt nhưng cũng không coi nhẹ những nghiên cứu tạo ra lợi ích căn bản và dài hạn. - Ý nghĩa thực tiễn: + Tổng quát, đánh giá được tình hình cung - cầu tại khách sạn Thắng Lợi, tình hình kinh doanh tại khách sạn. + Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh tại khách sạn Thắng Lợi. + Là căn cứ để xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách marketing tại khách sạn Thắng Lợi.
+ Đề xuất được các giải pháp và định hướng cụ thể để phát triển kinh doanh khách sạn. + Nâng cao hiểu biết, kiến thức thực tế về chuyên ngành quản trị khách sạn mà chúng em đang theo học. + Có giá trị tham khảo quan trọng trong công tác nghiên cứu. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH MARKETING NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TẠI KHÁCH SẠN 3.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM. Khái niệm về khách sạn và kinh doanh khách sạn. - Khái niệm về khách sạn: Thuật ngữ "hotel" - khách sạn có nguồn gốc từ tiếng Pháp. Từ khách sạn theo nghĩa hiện đại được dùng ở Pháp vào cuối thế kỷ XVII mãi đến cuối thế kỷ XIX mới được phổ biến ở các nước khác.
Cơ sở chính để phân biệt khách sạn là sự hiện diện của các buồng ngủ với đầy đủ tiện nghi bên trong so với các nhà trọ thời kỳ bấy giờ. Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX sự phát triển của khách sạn thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Tại các thành phố lớn ở châu Âu. châu Mỹ, cùng với những khách sạn sang trọng được xây dựng thì một hệ thống các khách sạn nhỏ được trang bị rất khiêm tốn cũng hình thành.
11 Ở mỗi quốc gia, ngoài sự khác nhau trong phong cách phục vụ và mức độ dịch vụ thì còn có sự khác nhau tùy thuộc vào mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn tại quốc gia đó. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều khái niệm khác nhau về khách sạn tại một nước. Tuy nhiên, ngày nay khi nói đến khách sạn, người ta hiểu đó là một cơ sở kinh doanh lưu trú với một số điều kiện nhất định về số lượng phòng và các trang thiết bị tiện nghi bên trong. Do nhu cầu của khách ngày càng đa dạng đồng thời các chủ khách sạn muốn mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh của mình nên khách sạn không những cho thuê phòng mà còn kinh doanh các dịch vụ ăn uống và một số dịch vụ bổ sung khác.
Do đó nội dung hoạt động của khách sạn ngày càng đa dạng phong phú. Theo Chon và Maier (2000) thì: “Khách sạn là nơi mà bất kỳ ai cũng có thể trả tiền để thuê buồng ngủ qua đêm ở đó. Mỗi buồng ngủ cho thuê bên trong phải có ít nhất hai phòng nhỏ (phòng ngủ và phòng tắm). Mỗi buồng khách đều phải có giường, điện thoại và vô tuyến.
Ngoài dịch vụ buồng ngủ có thể có thêm các dịch vụ khác như dịch vụ vận chuyển hành lý, trung tâm thương mại, nhà hàng, quầy bar và một số dịch vụ giải trí. Khách sạn có thể được xây dựng ở gần hoặc bên trong các khu thương mại, khu du lịch nghỉ dưỡng hoặc các sân bay”. Đối với Việt Nam, cũng có nhiều khái niệm về khách sạn được đưa ra, trong cuốn sách “Giải thích thuật ngữ trong du lịch và khách sạn” của tập thể tác giả Khoa Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2001) đã bổ sung một định nghĩa có tầm khái quát cao về khách sạn ở Việt Nam: “Khách sạn là cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi), dịch vụ ăn uống, phục vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu lại qua đêm và thường được xây dựng tại các điểm du lịch". Ngày 27/4/2001 của Tổng cục Du lịch về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ-CP của Chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch đã ghi rõ: “Khách sạn (Hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch".
Khái niệm trên về khách sạn đã giúp phân biệt khá cụ thể khách sạn với những loại hình cơ sở lưu trú khác trong lĩnh vực kinh doanh lưu trú. Nó cũng phù hợp với xu hướng phát triển của các khách sạn trong giai đoạn hiện nay. - Khái niệm về kinh doanh khách sạn: 12 Khái niệm về “kinh doanh khách sạn” ngày càng “giàu có" hơn theo quá trình hình thành và phát triển của lĩnh vực hoạt động kinh doanh này. Khi nghiên cứu bản chất của khái niệm "kinh doanh khách sạn", để có cái nhìn đầy đủ và toàn diện, cần hiểu được quá trình hình thành và phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn và sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh khách sạn.
Đầu tiên, kinh doanh khách sạn chỉ là hoạt động kinh doanh dịch vụ cho thuê buồng trọ qua đêm cho khách vãng lai phải trả tiền của các hộ gia đình. Những buồng trọ cho thuê lúc đầu chỉ mang tính tự phát, với số lượng nhỏ. Vì thế, "kinh doanh khách sạn" lúc đầu chỉ là hoạt động cho thuê buồng ngủ phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách vãng lai. Sau đó, số lượng khách từ nhiều nơi tới các điểm đến du lịch với nhu cầu lưu lại lâu hơn đã tăng lên.
Để giữ chân khách và nhằm tăng doanh thu cũng như lợi nhuận, ngoài dịch vụ cho thuê buồng ngủ, các chủ nhà trọ đã tổ chức cung cấp thêm dịch vụ phục vụ nhu cầu ăn uống cho khách. Khi đó khái niệm “Kinh doanh khách sạn” đã dược mở rộng và được hiểu là hoạt động kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nghi ngơi và ăn uống cho khách từ nơi khác đến. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, mức sống về vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao. Số lượng khách du lịch tăng lên nhanh chóng.
Cùng với đó, động cơ đi du lịch của khách du lịch cũng ngày càng da dạng. Ngoài việc đi du lịch để nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí. người ta còn đi đến những nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình vì các lý do khác như: muốn tìm tòi, học hỏi, khám phá thế giới xung quanh; tham gia vào các sự kiện, hội nghị, hội thảo. Vì thế, số lượng và chất lượng của các sản phẩm được cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu trong thời gian lưu lại của khách du lịch đã buộc phải tăng lên.
Như vậy, bên cạnh việc kinh doanh hai loại dịch vụ chính là dịch vụ cho thuê buồng ngủ và dịch vụ phục vụ ăn uống còn có thêm hoạt động kinh doanh các dịch vụ bô sung cho khách du lịch như: dịch vụ thể thao, giải trí ngoài trời, y tế, chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, giặt là, internet, cho thuê phòng họp, đăng cai tổ chức hội thảo, hội nghị. Chính vì vậy, cụm từ "kinh doanh khách sạn" không chỉ dùng riêng để nói về hoạt động kinh doanh của bản thân doanh nghiệp khách sạn, mà là danh từ chung dùng để chỉ hoạt động kinh doanh của các loại hình cơ sở lưu trú du lịch 13 nói chung. Do vậy, khái niệm “kinh doanh khách sạn " được tiếp cận theo ý nghĩa đại diện trên. Vậy, kinh doanh khách sạn được hiểu là “hoạt động kinh doanh của các cơ sở lưu trú du lịch dựa trên việc cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, nghỉ, và giải trí của khách tại các điểm du lịch nhằm mục đích mang lại lợi nhuận”.
Trong quá trình “sản xuất” và bán các sản phẩm dịch vụ của mình, các dịch vụ cơ sở lưu trú du lịch không tạo ra sản phẩm mới và cũng không tạo ra giá trị mới. Hoạt động kinh doanh khách sạn thông qua việc khai thác sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật cùng với hoạt động phục vụ của nhân viên phục vụ trực tiếp tại các bộ phận cung ứng dịch vụ khác nhau đã giúp chuyển dần các giá trị từ dạng vật chất sang dạng tiền tệ dưới hình thức “khấu hao” và phí phục vụ. Vì vậy hoạt động kinh doanh của các cơ sở lưu trú du lịch không thuộc lĩnh vực sản xuât vật chất, mà thuộc lĩnh vực phi vật chất. Hay kinh doanh khách sạn thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ.
Hệ thống sản phẩm của khách sạn. Bất kỳ một ngành kinh doanh nào đều có hệ thống sản phẩm của mình và sản phẩm của mỗi ngành có tính đặc thù riêng.