Tổng quan nghiên cứu
Du lịch biển đảo hiện giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế xanh toàn cầu, khi ước tính có khoảng 80% tổng lượng khách du lịch quốc tế lựa chọn các sản phẩm gắn liền với biển và hải đảo. Tại Việt Nam, quốc gia sở hữu 3.260 km bờ biển cùng gần 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, kinh tế du lịch duyên hải được xác định là ngành mũi nhọn chiến lược. Nằm trong dải duyên hải Nam Trung Bộ, tỉnh Phú Yên sở hữu 189 km đường bờ biển với nhiều thắng cảnh đặc sắc như vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan, cảng Vũng Rô cùng các cụm đảo giàu tiềm năng như Hòn Chùa, Cù lao Mái Nhà, Nhất Tự Sơn.
Mặc dù có nguồn tài nguyên phong phú, hoạt động khai thác sản phẩm du lịch biển đảo tại Phú Yên trong giai đoạn 2005 - 2015 vẫn chưa tương xứng với tiềm năng nội tại. Sản phẩm du lịch còn mang tính tự phát, nghèo nàn về chủng loại, thiếu hạ tầng tiện nghi và chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của du khách.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Du lịch của tác giả Lê Văn Đáng (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016) tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá toàn diện thực trạng điều kiện cung - cầu và hiện trạng khai thác sản phẩm du lịch biển đảo Phú Yên trong giai đoạn 2005 - 2015, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp phát triển đồng bộ hướng đến năm 2020. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học giúp gia tăng mức chi tiêu bình quân của du khách, kéo dài thời gian lưu trú và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho kinh tế địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cấu thành sản phẩm du lịch của Medlik và Middleton (1973), khẳng định sản phẩm du lịch là một chỉnh thể trải nghiệm trọn vẹn của du khách được kết hợp từ ba thành phần cốt lõi: Sức cuốn hút của tài nguyên (tự nhiên và nhân văn), Tiện nghi dịch vụ tại điểm đến (lưu trú, ẩm thực, giải trí), và Mức độ thuận lợi tiếp cận điểm đến (hạ tầng giao thông, phương tiện vận chuyển). Đồng thời, tác giả tích hợp khung lý thuyết quản lý du lịch biển bền vững từ các công trình kinh điển của Mark Orams (1999) và Martha Honey cùng David Krantz (2007) để tiếp cận vấn đề cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo tồn sinh thái.
Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm:
- Du lịch biển đảo: Loại hình du lịch khai thác không gian ven bờ và hải đảo phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan, giải trí.
- Sản phẩm du lịch biển đảo: Tập hợp các dịch vụ hữu hình và vô hình dựa trên tài nguyên biển đảo nhằm đáp ứng trọn vẹn nhu cầu trải nghiệm của khách hàng.
- Điều kiện cung và cầu du lịch: Hệ thống năng lực cung ứng hạ tầng, tiện nghi đối chiếu với dung lượng thị trường, hành vi tiêu dùng và khả năng chi trả của các phân khúc khách hàng mục tiêu.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận đa nguồn, kết hợp dữ liệu định tính và định lượng:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập hệ thống báo cáo ngành, số liệu thống kê du lịch tỉnh Phú Yên và các đề án của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch trong giai đoạn 2005 - 2015.
- Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Khảo sát thực địa với cỡ mẫu 350 du khách nội địa và quốc tế được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện tại các điểm tham quan trọng điểm như bãi biển Tuy Hòa, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài, Hòn Chùa. Bên cạnh đó, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 20 chuyên gia, nhà quản lý tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng đại diện các doanh nghiệp lữ hành hàng đầu tại địa phương.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp thang đo đánh giá độ hài lòng. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm định lượng hóa chính xác mức độ thỏa mãn của du khách đối với từng nhóm sản phẩm cụ thể, tạo căn cứ dữ liệu vững chắc để xây dựng giải pháp mang tính khả thi cao theo mốc định hướng phát triển đến năm 2020.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu khảo sát thực tế giai đoạn 2005 - 2015 cho thấy bức tranh rõ nét về thực trạng sản phẩm du lịch biển đảo Phú Yên:
-
Cơ cấu cơ sở lưu trú và tiện nghi dịch vụ còn mất cân đối: Tính đến năm 2015, số lượng cơ sở lưu trú toàn tỉnh đạt khoảng 110 cơ sở, tuy nhiên hơn 70% là các khách sạn quy mô nhỏ dưới 2 sao và nhà nghỉ gia đình. Tỷ lệ cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn cao cấp 3 - 5 sao ven biển chỉ chiếm dưới 15%, dẫn đến tình trạng thiếu hụt trầm trọng phòng nghỉ chất lượng cao trong mùa cao điểm.
-
Đánh giá sức hấp dẫn tài nguyên và tính đơn điệu của sản phẩm: Khoảng 85% du khách được khảo sát đánh giá cảnh quan thiên nhiên biển đảo Phú Yên có mức độ hấp dẫn từ khá đến rất cao nhờ nét hoang sơ, bãi cát phẳng mịn và nước biển trong sạch. Dẫu vậy, có đến 62% du khách nhận định sản phẩm còn quá đơn điệu, chủ yếu giới hạn ở hoạt động tắm biển truyền thống và ăn uống hải sản, thiếu vắng các sản phẩm thể thao nước hiện đại hay du lịch lặn biển có hướng dẫn viên chuyên nghiệp.
-
Mức chi trả và thời gian lưu trú còn hạn chế: Doanh thu du lịch Phú Yên giai đoạn 2005 - 2015 duy trì đà tăng trưởng khoảng 18 - 22%/năm, nhưng chi tiêu trung bình của khách du lịch biển đảo chỉ dao động ở mức 450.000 - 650.000 VNĐ/khách/ngày. Thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 1,5 - 1,8 ngày/khách, thấp hơn đáng kể so với các điểm đến lân cận như Nha Trang hay Bình Định.
-
Nhận thức bảo tồn tài nguyên sinh thái: Gần 58% ý kiến chuyên gia và du khách thể hiện sự lo ngại về công tác thu gom xử lý rác thải tại các bãi biển và nguy cơ phá hủy các rạn san hô quanh cụm đảo Hòn Chùa, Cù lao Mái Nhà do hoạt động canô và lặn ngắm tự phát.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên bắt nguồn từ việc liên kết hạ tầng giao thông tiếp cận Phú Yên trong giai đoạn trước năm 2015 còn gặp nhiều rào cản, tần suất chuyến bay đến sân bay Tuy Hòa thấp và mạng lưới phương tiện đường thủy nội địa ra đảo chưa được cấp phép đồng bộ. Nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ du lịch chỉ có khoảng 28% qua đào tạo bài bản về nghiệp vụ lữ hành và khách sạn.
Khi so sánh với các nghiên cứu tương đồng tại Quảng Nam (Phạm Đông Nhựt, 2015) hay Kiên Giang (Cao Mỹ Khanh, 2014), điểm nghẽn của Phú Yên phản ánh mẫu số chung của các điểm đến mới nổi: Tài nguyên phong phú nhưng chuỗi giá trị dịch vụ gia tăng bị đứt gãy. Dữ liệu khảo sát có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ phân bổ mức chi tiêu của du khách để thấy rõ khoản chi cho dịch vụ vui chơi giải trí chỉ chiếm chưa đầy 8% tổng cơ cấu chi tiêu. Điều này khẳng định nếu không đa dạng hóa sản phẩm sang phân khúc thể thao biển, sinh thái và văn hóa di sản, địa phương sẽ khó bứt phá doanh thu.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, tác giả đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tái định vị và nâng tầm sản phẩm du lịch biển đảo Phú Yên:
-
Đa dạng hóa và hoàn thiện danh mục 4 nhóm sản phẩm mũi nhọn:
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng 4 dòng sản phẩm đặc thù: Du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp tại vịnh Xuân Đài, du lịch sinh thái cộng đồng tại đầm Ô Loan, thể thao biển (lướt ván, thuyền buồm, chèo kayak) tại bãi biển Tuy Hòa và sản phẩm lặn biển ngắm san hô chuyên nghiệp tại đảo Hòn Chùa.
- Mục tiêu: Nâng thời gian lưu trú bình quân lên 2,5 - 3,0 ngày/khách trong giai đoạn 2016 - 2020.
-
Nâng cấp hạ tầng giao thông và phương tiện tiếp cận điểm đến:
- UBND tỉnh Phú Yên và Sở Giao thông Vận tải ưu tiên nguồn vốn hoàn thiện tuyến đường ven biển kết nối các điểm du lịch từ Tuy An đến Đông Hòa; cấp phép vận hành từ 10 - 15 tàu thuyền và ca nô cao tốc đạt chuẩn quốc tế ra các đảo ven bờ trước năm 2018.
- Phối hợp mở rộng công suất khai thác các chuyến bay nội địa và quốc tế đến sân bay Tuy Hòa.
-
Chuẩn hóa nguồn nhân lực và chất lượng dịch vụ du lịch:
- Hiệp hội Du lịch phối hợp với các trường đại học, cao đẳng mở các khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng hướng dẫn viên biển đảo, cứu hộ bờ biển và văn hóa ứng xử du lịch.
- Mục tiêu: Đạt tỷ lệ trên 80% lao động trực tiếp tại các cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống ven biển được cấp chứng chỉ nghiệp vụ vào năm 2020.
-
Đẩy mạnh xúc tiến tiếp thị số và thiết lập cơ chế bảo vệ môi trường:
- Trung tâm Xúc tiến Du lịch triển khai chiến dịch định vị thương hiệu biển đảo gắn liền với văn hóa bản địa trên các kênh truyền thông số; áp dụng nghiêm ngặt bộ tiêu chuẩn nhãn sinh thái xanh cho 100% cơ sở kinh doanh ven biển trước năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Phú Yên): Sử dụng số liệu khảo sát và các định hướng trong luận văn làm luận cứ khoa học để hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
- Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Khai thác bức tranh nhu cầu, hành vi tiêu dùng và mức chi trả của du khách để thiết kế các tour tuyến biển đảo mới, định hình các dự án nghỉ dưỡng và tổ hợp vui chơi giải trí ven biển.
- Giảng viên, học viên và sinh viên khối ngành Du lịch - Khách sạn: Sử dụng làm tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình phương pháp luận, cách thức thiết kế bảng hỏi và xử lý dữ liệu điều tra điểm đến biển đảo.
- Cộng đồng cư dân địa phương ven biển: Nắm bắt cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp, tham gia cung ứng dịch vụ du lịch sinh thái cộng đồng bền vững nhằm gia tăng thu nhập hộ gia đình.
Câu hỏi thường gặp
-
Khung lý thuyết cấu thành sản phẩm du lịch trong luận văn bao gồm những yếu tố nào? Luận văn dựa trên mô hình của Medlik và Middleton (1973), xác định sản phẩm du lịch là sự tổng hòa của 3 yếu tố: Sức hút từ tài nguyên tự nhiên và văn hóa bản địa, hệ thống tiện nghi dịch vụ tại chỗ (lưu trú, ẩm thực, mua sắm) và khả năng tiếp cận điểm đến thuận tiện thông qua hạ tầng giao thông.
-
Tiềm năng tự nhiên nổi bật nhất của du lịch biển đảo Phú Yên được xác định là gì? Phú Yên có 189 km bờ biển với nhiều thắng cảnh cấp quốc gia như vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan, cảng Vũng Rô cùng hệ thống đảo gần bờ phong phú như Hòn Chùa, Hòn Than, Nhất Tự Sơn, sở hữu hệ sinh thái rạn san hô nguyên sơ và độ dốc thoải lý tưởng cho phát triển thể thao biển.
-
Hạn chế lớn nhất của sản phẩm du lịch Phú Yên giai đoạn 2005 - 2015 là gì? Hạn chế lớn nhất là sản phẩm còn nghèo nàn, thiếu các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp, thời gian lưu trú ngắn (trung bình 1,5 ngày) và mức chi tiêu của du khách còn thấp (chỉ khoảng 450.000 - 650.000 VNĐ/ngày) do hơn 70% cơ sở lưu trú là phân khúc bình dân.
-
Luận văn đề xuất các nhóm sản phẩm du lịch biển đảo chủ đạo nào? Nghiên cứu kiến nghị phát triển 4 dòng sản phẩm trọng tâm: Du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp, du lịch văn hóa gắn với lễ hội và làng nghề chài lưới truyền thống, du lịch thể thao biển mạo hiểm (lướt ván, thuyền buồm) và du lịch sinh thái lặn ngắm san hô.
-
Đâu là giải pháp cấp thiết để kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch tại Phú Yên? Giải pháp then chốt là đẩy nhanh việc đầu tư hạ tầng giao thông kết nối đường thủy ra đảo, hoàn thiện chuỗi dịch vụ kinh tế đêm ven biển tại thành phố Tuy Hòa và chuẩn hóa trên 80% nguồn nhân lực phục vụ đạt chuẩn nghề du lịch quốc tế trước năm 2020.
Kết luận
- Luận văn thạc sĩ đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuỗi giá trị và cấu thành sản phẩm du lịch biển đảo áp dụng cho điểm đến duyên hải.
- Đánh giá thực chứng hiện trạng phát triển sản phẩm du lịch biển đảo Phú Yên trong giai đoạn 2005 - 2015 qua mẫu khảo sát 350 du khách và 20 chuyên gia đầu ngành.
- Chỉ rõ những nút thắt căn bản về cơ cấu lưu trú với trên 70% cơ sở nhỏ lẻ, mức chi tiêu thấp và sản phẩm dịch vụ giải trí còn nghèo nàn.
- Xây dựng hệ thống giải pháp liên hoàn với 4 nhóm sản phẩm mũi nhọn và các mốc chỉ số hành động cụ thể hướng đến năm 2020.
- Định hướng khai thác bền vững 189 km bờ biển Phú Yên, tạo sự cân bằng giữa tăng trưởng doanh thu du lịch và bảo tồn sinh thái biển đảo.
Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực tế, làm cầu nối giữa lý thuyết kinh tế du lịch và chính sách điều hành địa phương. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng ứng dụng các khuyến nghị từ nghiên cứu này để xây dựng các sản phẩm du lịch biển đảo độc đáo, tạo bước chuyển mình mạnh mẽ cho du lịch Phú Yên trong giai đoạn mới.