Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công (mã số: 934 04 02) của tác giả Phạm Thu Thủy, được hoàn thành năm 2023 tại Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Minh Thi, tập trung nghiên cứu đề tài "Chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam hiện nay".
Về tính cấp thiết, tác giả xác định người lao động là lực lượng chiếm phần lớn cơ cấu dân số, là nguồn lực chính bảo đảm phát triển kinh tế, giữ vững ổn định xã hội và trực tiếp tạo ra giá trị vật chất cho các tổ chức, đơn vị. Trong tiến trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản pháp luật nhằm động viên sức lao động, tiêu biểu như Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng với yêu cầu chú trọng khen thưởng đối với công nhân, nông dân, người trực tiếp lao động, sản xuất; cùng các Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 và Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các chương trình mục tiêu quốc gia. Tuy nhiên, luận án chỉ rõ bốn bất cập lớn trong thực tiễn:
- Chính sách khuyến khích tạo động lực tinh thần cho người lao động chưa rõ, chưa được tách bạch riêng mà lồng ghép chung với các đối tượng khác; khi đề xuất khen thưởng, các cơ quan, đơn vị chú trọng nhiều đến người giữ chức vụ lãnh đạo.
- Tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng vướng phải quy tắc "khen thấp rồi mới được khen cao", "cộng dồn thành tích", "lũy kế thành tích", chưa thực hiện đúng nguyên tắc thực tiễn "thành tích đến đâu, khen thưởng đến đó"; lao động nữ được khen ít hơn nam, người lao động trực tiếp khó tiếp cận các hình thức khen thưởng cấp Nhà nước như Huân chương Lao động hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
- Trình tự, thủ tục hồ sơ khen thưởng phức tạp, phải qua nhiều cấp, nhiều ngành và thiếu tính công khai, minh bạch, làm giảm tính kịp thời của khen thưởng, đặc biệt là khen thưởng đột xuất.
- Quá trình thực thi còn biểu hiện hình thức, chưa trung thực, khen thưởng chưa tương xứng với công trạng; có hiện tượng khen chưa đúng người, đúng việc hoặc khen thưởng xong mới phát hiện vi phạm pháp luật.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở phân tích lý luận cơ bản và nội dung chính sách khen thưởng đối với người lao động, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách này để đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam. Luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về chính sách và chính sách khen thưởng cho người lao động.
- Nhiệm vụ 2: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách khen thưởng cho người lao động.
- Nhiệm vụ 3: Đánh giá thực trạng chính sách và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trong giai đoạn hiện nay; phân tích kết quả, hạn chế và các vấn đề đặt ra.
- Nhiệm vụ 4: Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng cho người lao động ở nước ta.
Luận án đặt ra năm câu hỏi nghiên cứu:
- Chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam có mục tiêu và những nội dung cơ bản nào?
- Những yếu tố nào tác động đến chính sách khen thưởng đối với người lao động?
- Việc thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động được thực hiện như thế nào?
- Giải pháp nào để các chính sách khen thưởng mang ý nghĩa tích cực, động viên, khuyến khích người lao động?
- Các giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng cho người lao động ở nước ta?
Giả thuyết nghiên cứu xác định: Chính sách khen thưởng cho người lao động hiện nay còn nhiều bất cập về nội dung, hình thức, quy trình, thủ tục, chưa đáp ứng nguyên tắc chính xác, công khai, công bằng, kịp thời; thực tế thực thi hiệu quả còn thấp, chưa kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần và khuyến khích vật chất, chưa đáp ứng mục tiêu thúc đẩy tinh thần lao động sáng tạo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án nghiên cứu chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam. Về phạm vi nội dung, trong sáu loại hình khen thưởng hiện hành tại Việt Nam, luận án giới hạn nghiên cứu ba loại hình chính áp dụng cho người lao động: (1) khen thưởng công trạng và thành tích đạt được; (2) khen thưởng đột xuất; (3) khen thưởng qua các phong trào thi đua (không nghiên cứu khen thưởng tổng kết thành tích cách mạng, khen thưởng quá trình cống hiến, khen thưởng đối ngoại, khen thưởng cho người nước ngoài và khen thưởng tập thể). Phạm vi không gian bao gồm các Bộ, ngành và địa phương trên toàn quốc. Phạm vi thời gian tập trung từ năm 2013 (khi Luật Thi đua, khen thưởng được sửa đổi) đến thời điểm nghiên cứu; có khái quát giai đoạn 1946 - 2013 và sử dụng số liệu thực trạng chủ yếu từ năm 2017 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu của luận án phân tích các nhóm công trình trong nước và quốc tế theo ba chủ đề chính:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về lý luận chính sách và lý luận khen thưởng: Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu nền tảng về chính sách công của Lê Chi Mai (2001), Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa (2013), Đỗ Phú Hải (2017), Nguyễn Hữu Hải (2014), Lê Như Thanh và Lê Văn Hòa (2016), Hồ Việt Hạnh (2017, 2018). Các luận án tiến sĩ chính sách công chuyên ngành cũng được phân tích nhằm làm rõ chu trình và phương pháp tiếp cận chính sách, bao gồm nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa (2018), Quách Thị Minh Phượng (2016), Đặng Thị Đào Trang (2020), Hoàng Vũ Linh Chi (2020). Về lý luận khen thưởng, tác giả điểm lại đề tài độc lập cấp Nhà nước của Trần Thị Hà (2010), đề tài cấp Bộ của Nguyễn Thế Thắng (2012), sách của Trương Quốc Bảo (2010), đề tài của Bùi Thị Thu Hương (2017), Ngô Thị Hải Anh (2021), các bài báo của Phạm Minh Thùy và Nguyễn Duy Linh (2017), Nguyễn Thế Anh (2018), Nguyễn Thế Thắng (2017), Vũ Xuân Đức (2022). Ở nước ngoài, các công trình được trích dẫn gồm sách của Cave (2002) tại Australia về tạo động lực qua môi trường làm việc; bài viết của Bragg (2000) trên tạp chí Occupational Hazards chỉ ra năm lĩnh vực tác động đến hệ thống khen thưởng; sách của Paige Leavitt (2002) của Trung tâm chất lượng Mỹ về đổi mới khen thưởng; nghiên cứu của Nicky Campbell-Allen và Don Houston (2008) tại New Zealand về mô hình nhận diện thành tích người lao động; tài liệu của Festing (2017) về quản trị khen thưởng quốc tế; và ấn phẩm của Work and work (1995) về hệ thống tiêu chuẩn đánh giá khen thưởng.
Thứ hai, nhóm nghiên cứu về thực trạng chính sách và pháp luật khen thưởng: Các nghiên cứu lịch sử và tổ chức thi đua khen thưởng gồm đề tài của Trần Hữu Nam (2010), đề tài độc lập cấp Nhà nước của Trần Thị Hà (2017), đề tài của Phạm Huy Giang (2014), các bài viết của Vân Long (2018, 2021). Nhóm nghiên cứu pháp luật về thi đua khen thưởng gồm đề tài cấp Bộ của Nguyễn Minh Mẫn (2010) và Đoàn Trung Dũng (2019) tại Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương về cơ sở sửa đổi Luật Thi đua, khen thưởng năm 2013.
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về giải pháp thực hiện chính sách khen thưởng: Các công trình đề xuất giải pháp gồm đề tài cấp Bộ của Trần Thị Hảo (2020) về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thi đua khen thưởng; đề tài của Bộ Thông tin và Truyền thông (2012) do Phạm Minh Tiến chủ nhiệm; đề tài của Mai Quang (2016) về cải cách thủ tục hành chính; các đề tài nghiên cứu tại địa phương của Phạm Duy Hanh (2006) tại Lào Cai, Nguyễn Minh Hảo (2010) tại Thái Nguyên; đề tài cấp Bộ của Đỗ Thúy Phượng (2018) về thi đua khen thưởng đối với nông dân; các bài viết của Hoàng Thúy Hằng (2020), Mai Hoa (2017), Đình Huấn và Xuân Trường (2022), cùng kỷ yếu hội thảo do Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 25/11/2022.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Phần lớn các công trình đã công bố tiếp cận chính sách công nói chung hoặc nghiên cứu công tác thi đua gắn liền với khen thưởng, nghiên cứu pháp luật thi đua khen thưởng chung cho mọi đối tượng. Chưa có công trình khoa học độc lập quy mô luận án tiến sĩ nào nghiên cứu trực diện, chuyên sâu về chính sách khen thưởng dành riêng cho đối tượng người lao động trực tiếp; thiếu vắng các khảo sát định lượng quy mô lớn về tỷ lệ khen thưởng thực tế của người lao động so với cán bộ quản lý và các rào cản thủ tục hành chính mà người lao động gặp phải. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, luận án tiếp cận chính sách khen thưởng theo cách tiếp cận nội dung chính sách (gồm mục tiêu, nội dung, công cụ, giải pháp và thực hiện chính sách), đặt trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về hệ thống khái niệm: Khái niệm người lao động được luận án tổng hợp từ nghiên cứu của Davidov (2005), quy định tại Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, phân định giữa khu vực công và khu vực tư, giữa lao động hưởng lương và lao động tự do. Luận án xác lập định nghĩa người lao động phục vụ phạm vi nghiên cứu: là các cá nhân làm việc theo hình thức hợp đồng (miệng hoặc văn bản) nhất định, được hưởng lương hoặc trả công; không giữ chức vụ lãnh đạo, được người quản lý hoặc người sử dụng lao động chi trả tiền lương, tiền công, thù lao; và các cá nhân tự do kinh doanh, làm việc tự do, không làm công ăn lương hoặc làm việc cho gia đình. Khái niệm khen thưởng được phân tách thành "khen" (theo Từ điển Tiếng Việt) và "thưởng" (theo Sổ tay từ ngữ Hán Việt của Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Tồn, Vũ Đức Nghiên), xác định mối quan hệ hữu cơ giữa công nhận tinh thần và đãi ngộ vật chất.
Về khung phân tích, luận án xây dựng hệ thống phân tích gồm: thể chế chính sách, công cụ chính sách, bảy yếu tố tác động (vấn đề chính sách; thể chế chính trị và năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền; năng lực chủ thể hoạch định; năng lực cơ quan thực thi; thời gian và thông tin; động cơ mục đích của các bên; các điều kiện bảo đảm thực thi) và bốn tiêu chí đánh giá chính sách (mức độ áp dụng; tính phù hợp trong áp dụng hình thức và mức khen; khả năng tuân thủ; tính hữu ích và bền vững).
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phân tích tài liệu định tính và điều tra định lượng:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp quy nạp, diễn dịch: dùng để phân tích văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương của Đảng, hệ thống hóa lý luận và đề xuất giải pháp.
- Phương pháp phân tích thông tin thứ cấp: Thu thập các báo cáo định kỳ giai đoạn 2017 - 2021 của các Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thu thập và xử lý toàn bộ 3.989 Quyết định khen thưởng cấp Nhà nước do Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2020 (không tính Bộ Quốc phòng và Bộ Công an) để xác định cơ cấu khen thưởng theo chức danh, nghề nghiệp, giới tính và vùng miền.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2020 bằng bảng hỏi với dung lượng mẫu 507 phiếu tại bốn vùng kinh tế - xã hội gồm Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên; phát phiếu tại bốn cơ quan Trung ương (Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường) và mười ba địa phương (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Thừa Thiên Huế, Lào Cai, Yên Bái, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Gia Lai, Bình Dương, Bình Phước, Cà Mau, Bến Tre). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS để tính toán tỷ lệ phần trăm và phân tích tương quan.
Bảng tổng hợp cơ cấu mẫu khảo sát 507 phiếu điều tra xã hội học của luận án:
| STT |
Nhóm đối tượng khảo sát |
Tỷ lệ (%) |
Địa bàn và cơ quan khảo sát |
| 1 |
Công chức |
20,19% |
Bộ, cơ quan ngang Bộ: Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường. 13 tỉnh, thành phố đại diện 4 vùng: Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Lào Cai, Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Gia Lai, Bình Dương, Bình Phước, Bến Tre, Cà Mau. |
| 2 |
Viên chức |
15,80% |
|
| 3 |
Nông dân |
15,40% |
|
| 4 |
Nhân viên |
14,20% |
|
| 5 |
Học sinh, sinh viên |
10,30% |
|
| 6 |
Chức sắc tôn giáo |
6,70% |
|
| 7 |
Các đối tượng khác |
3,70% |
|
| Tổng |
Toàn bộ mẫu điều tra |
100% |
Dung lượng: N = 507 phiếu |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài, phân chia thành ba nhóm nội dung: lý luận về chính sách và khen thưởng; thực trạng chính sách, pháp luật thi đua khen thưởng; các đề xuất, giải pháp đổi mới công tác khen thưởng. Luận án phân tích chi tiết các kết quả đạt được từ các nghiên cứu đi trước của các tác giả trong nước (Lê Chi Mai, Nguyễn Hữu Hải, Trần Thị Hà, Nguyễn Thế Thắng, Đoàn Trung Dũng...) và các học giả quốc tế (Cave, Bragg, Paige Leavitt, Nicky Campbell-Allen...). Tác giả khẳng định công trình kế thừa các khung khái niệm về chính sách công, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và các số liệu lịch sử thi đua khen thưởng thời kỳ cách mạng. Đồng thời, tác giả xác định rõ những nội dung luận án tiếp tục nghiên cứu gồm: chuẩn hóa khái niệm người lao động trong chính sách khen thưởng, xây dựng tiêu chí đánh giá chính sách, đo lường thực trạng khen thưởng người lao động dựa trên cơ sở dữ liệu quyết định khen thưởng năm 2020 và kết quả điều tra xã hội học độc lập, từ đó đề xuất các giải pháp gắn với bối cảnh hoàn thiện Luật Thi đua, khen thưởng.
Chương 2: LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
Chương 2 thiết lập cơ sở lý luận chuyên ngành về chính sách khen thưởng cho người lao động. Tác giả phân tích nội hàm các khái niệm: người lao động, khen thưởng, chính sách và chính sách khen thưởng cho người lao động. Luận án làm rõ sáu đặc điểm của người lao động trong nghiên cứu: làm việc hưởng lương hoặc công xá theo hợp đồng và không giữ chức vụ lãnh đạo; xuất hiện ở mọi lĩnh vực đời sống; không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo; nhận thù lao tương xứng; chịu sự quản lý, giám sát của người sử dụng lao động; hoặc là lao động tự do, tự doanh.
Luận án làm rõ mục tiêu của chính sách (tạo động lực lao động, nâng cao năng suất, công nhận cống hiến), nội dung chính sách (tiêu chuẩn, hình thức, thẩm quyền, thủ tục khen thưởng) và vai trò của chính sách đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận án hệ thống hóa thể chế chính sách (hệ thống pháp luật, cơ chế điều hành, tổ chức bộ máy làm công tác thi đua khen thưởng) và công cụ chính sách (công cụ pháp lý, công cụ kinh tế - vật chất, công cụ tuyên truyền - giáo dục tinh thần). Chương này cũng luận giải chi tiết bảy yếu tố tác động đến chu trình chính sách khen thưởng và thiết lập bốn tiêu chí đánh giá chính sách làm cơ sở đo lường thực tiễn tại Chương 3.
Chương 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Chương 3 trình bày bức tranh thực trạng qua hai giai đoạn lịch sử: giai đoạn 1946 - 2013 và giai đoạn từ năm 2013 đến nay (trọng tâm là 2017 - 2021). Tác giả vận dụng kết quả phân tích 3.989 Quyết định khen thưởng cấp Nhà nước năm 2020 và 507 phiếu điều tra xã hội học qua các bảng biểu thống kê chuyên sâu:
- Về tương quan hình thức và đối tượng: Bảng 3.1, 3.2, 3.3, 3.4, 3.5 và Biểu đồ 3.1 cho thấy sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ khen thưởng người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý so với người lao động trực tiếp; tỷ lệ khen thưởng nam giới giữ vị trí lãnh đạo cao hơn đáng kể so với nữ giới và người lao động trực tiếp; sự phân bổ người lao động được khen thưởng giữa các ngành nghề, khu vực công và khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa đồng đều.
- Về quy trình và trách nhiệm thực thi: Bảng 3.6 và Bảng 3.7 phân tích các tuyến trình khen năm 2020 và yêu cầu trách nhiệm của cán bộ, công chức làm công tác thi đua khen thưởng, chỉ ra quy trình xét duyệt qua nhiều cấp trung gian làm chậm tiến độ khen thưởng.
- Về các loại hình và phong trào thi đua: Bảng 3.8 và Bảng 3.9 thể hiện mức độ phát hiện điển hình tiên tiến và ý kiến đề xuất bổ sung hình thức khen riêng cho người lao động; Bảng 3.10 ghi nhận tỷ lệ khen thưởng đột xuất cho người lao động còn thấp. Các Bảng 3.11, 3.12, 3.13, 3.14 đánh giá việc khen thưởng người lao động trong các phong trào thi đua trọng điểm như phòng chống dịch Covid-19, phong trào "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới", "Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau", và phong trào thực hiện văn hóa công sở.
- Về động lực và đánh giá chính sách: Bảng 3.15, 3.16 và số liệu tại trang 107 (Bảng đánh giá của người lao động về chính sách khen thưởng hiện nay) lượng hóa mức độ tác động của tiền thưởng, hiện vật và danh hiệu tinh thần tới động lực làm việc, cùng sự khác biệt về nhận thức tầm quan trọng của chính sách theo từng vùng miền.
Chương 3 kết luận những vấn đề đang đặt ra: người lao động trực tiếp ít có cơ hội tiếp cận hình thức khen bậc cao do quy định tích lũy thành tích; tiêu chí xét khen cho công nhân, nông dân còn chung chung; thủ tục hồ sơ giấy tờ phức tạp; mức thưởng vật chất đi kèm danh hiệu chưa đủ tạo động lực kinh tế lâu dài.
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Chương 4 đề xuất năm quan điểm hoàn thiện chính sách:
- Kế thừa các giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về khen thưởng.
- Quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thi đua, khen thưởng.
- Gắn khen thưởng người lao động với phong trào thi đua, chuyển biến nhận thức xã hội về vị trí của người lao động.
- Bảo đảm tính đồng bộ trong hệ thống chính sách và minh bạch về tiêu chí, điều kiện khen.
- Phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc chính xác, công khai, công bằng, kịp thời.
Trên cơ sở các quan điểm trên và bám sát các quy định mới của Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2024), luận án đề xuất tám nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện nội dung chính sách: xác lập tiêu chuẩn rõ ràng cho từng nhóm người lao động (công nhân, nông dân, nhân viên), xóa bỏ rào cản tích lũy danh hiệu từ thấp lên cao đối với thành tích xuất sắc đột xuất và lao động trực tiếp.
- Hoàn thiện công cụ chính sách: kết hợp hài hòa công cụ tinh thần với nâng mức thưởng vật chất; đa dạng hóa các hình thức tôn vinh.
- Cụ thể hóa chính sách thành các văn bản quy phạm pháp luật: xây dựng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật với tiêu chí định lượng cụ thể cho đối tượng người lao động.
- Hoàn thiện thủ tục hồ sơ, tiêu chuẩn và tuyến trình: đơn giản hóa hồ sơ, giảm thiểu thành phần giấy tờ minh chứng, rút ngắn thời gian thẩm định tại Hội đồng thi đua - khen thưởng các cấp.
- Nâng cao năng lực chủ thể thực hiện và đối tượng thụ hưởng: bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách công tác thi đua khen thưởng; tuyên truyền chính sách tới người lao động.
- Tăng cường nguồn lực thực thi chính sách: bảo đảm nguồn kinh phí khen thưởng từ ngân sách nhà nước và xã hội hóa hợp pháp từ các doanh nghiệp.
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng và bình đẳng giới: niêm yết công khai danh sách đề nghị khen thưởng, quan tâm tỷ lệ khen thưởng thỏa đáng cho lao động nữ trực tiếp.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: giám sát chặt chẽ quy trình bình xét, xử lý nghiêm minh các hiện tượng gian dối thành tích hoặc ban phát khen thưởng sai quy định.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:
Về lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về chính sách khen thưởng dành riêng cho đối tượng người lao động; xây dựng định nghĩa khoa học về người lao động dưới góc độ chính sách công bao hàm cả khu vực công, khu vực tư và lao động tự do; xác lập hệ thống các yếu tố tác động và khung tiêu chí đánh giá chính sách khen thưởng cho người lao động.
Về thực tiễn: Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm khách quan thông qua việc phân tích toàn diện 3.989 Quyết định khen thưởng cấp Nhà nước trong năm 2020 và bộ dữ liệu điều tra xã hội học 507 phiếu xử lý qua SPSS. Đây là nguồn dữ liệu thực chứng chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu trước đây, chỉ rõ tỷ lệ phân bổ khen thưởng thực tế theo ngạch bậc chức danh lãnh đạo so với lao động trực tiếp, cơ cấu giới tính và ngành nghề.
Về giải pháp: Các giải pháp hoàn thiện chính sách được xây dựng bám sát thực tiễn đổi mới lập pháp của Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2024). Các kiến nghị tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về tuyến trình hồ sơ, quy định trách nhiệm người đứng đầu cơ quan trong việc chủ động phát hiện và khen thưởng người lao động trực tiếp, gắn nguyên tắc "thành tích đến đâu khen thưởng đến đó" vào văn bản quy phạm pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở ba loại hình khen thưởng (công trạng, đột xuất, phong trào thi đua), chưa bao quát ba loại hình còn lại (khen thưởng thành tích kháng chiến, quá trình cống hiến, khen thưởng đối ngoại).
- Luận án không nghiên cứu đối tượng khen thưởng thuộc lực lượng vũ trang (đã loại trừ số liệu của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong 3.989 quyết định khen thưởng năm 2020), khen thưởng tập thể và người lao động nước ngoài tại Việt Nam.
- Về nguồn dữ liệu thứ cấp, thông tin trích xuất từ các quyết định khen thưởng cấp Nhà nước năm 2020 là kết quả cuối cùng đã qua phê duyệt, do đó bị hạn chế trong việc phản ánh toàn bộ quy trình, diễn biến bình xét thực tế từ cấp cơ sở và nội dung thành tích chi tiết của từng cá nhân.
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả tác động của các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 sau khi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2024; thực hiện các nghiên cứu so sánh về chính sách đãi ngộ, tôn vinh người lao động giữa khu vực kinh tế tư nhân và khu vực công lập; khảo sát sâu trên từng nhóm nghề lao động đặc thù.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Cơ quan tham mưu quản lý nhà nước: Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Bộ Nội vụ và cơ quan chuyên trách thi đua khen thưởng tại các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật dưới luật và hoàn thiện quy chế khen thưởng cơ sở.
- Tổ chức công đoàn và đại diện người lao động: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn các cấp trong việc tham mưu xây dựng quy chế phát hiện điển hình tiên tiến và bảo vệ quyền lợi tôn vinh của người lao động trực tiếp.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Học viện Khoa học xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính Quốc gia và các trường đại học sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề về hoạch định và thực thi chính sách công. Phần chương 2 (hệ thống tiêu chí đánh giá) và chương 3 (bộ dữ liệu bảng biểu thực nghiệm) là những nội dung có giá trị tham khảo học thuật cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định đối tượng "người lao động" trong phạm vi nghiên cứu như thế nào?
Luận án xác định người lao động là các cá nhân làm việc theo hình thức hợp đồng (miệng hoặc văn bản) nhất định, được hưởng lương hoặc trả công; là người không giữ chức vụ lãnh đạo, được chi trả thù lao cho công sức bỏ ra; và các cá nhân tự do kinh doanh, làm việc tự do, không làm công ăn lương hoặc làm việc cho gia đình, thuộc cả khu vực công và khu vực tư.
2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những nguồn nào và quy mô ra sao?
Dữ liệu thực nghiệm gồm hai nguồn chính: (1) Phân tích thứ cấp 3.989 Quyết định khen thưởng cấp Nhà nước ban hành năm 2020 (do Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch nước trao tặng, không tính Bộ Quốc phòng và Bộ Công an); (2) Khảo sát xã hội học 507 phiếu bằng bảng hỏi thực hiện từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2020 trên 4 vùng kinh tế - xã hội, tại 4 Bộ/cơ quan Trung ương và 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS.
3. Cơ cấu thành phần các nhóm đối tượng tham gia khảo sát 507 phiếu bảng hỏi gồm những ai?
Mẫu khảo sát gồm: công chức chiếm 20,19%; viên chức chiếm 15,80%; nông dân chiếm 15,40%; nhân viên chiếm 14,20%; học sinh, sinh viên chiếm 10,30%; chức sắc tôn giáo chiếm 6,70%; và các đối tượng khác chiếm 3,70%.
4. Luận án giới hạn nghiên cứu những loại hình khen thưởng nào và loại trừ những nội dung nào?
Luận án chỉ nghiên cứu 3/6 loại hình khen thưởng hiện hành: khen thưởng công trạng và thành tích đạt được; khen thưởng đột xuất; khen thưởng qua các phong trào thi đua. Luận án không nghiên cứu khen thưởng tổng kết thành tích cách mạng, khen thưởng quá trình cống hiến, khen thưởng đối ngoại, khen thưởng cho người nước ngoài tại Việt Nam và khen thưởng tập thể.
5. Điểm nghẽn lớn nhất trong quy định tiêu chuẩn khen thưởng cho người lao động được tác giả chỉ ra là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là nguyên tắc "khen thấp rồi mới được khen cao", "lũy kế thành tích", "cộng dồn thành tích" cùng các thủ tục hồ sơ giấy tờ qua nhiều cấp thẩm định, khiến người lao động trực tiếp và lao động nữ rất khó đạt được các hình thức khen thưởng cấp Nhà nước, làm triệt tiêu tính kịp thời của khen thưởng.
Kết luận
Luận án "Chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Phạm Thu Thủy là công trình khoa học chuyên ngành Chính sách công, giải quyết trực diện các khoảng trống lý luận và thực tiễn về cơ chế động viên, tôn vinh người lao động trực tiếp sản xuất. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp với dữ liệu điều tra xã hội học xử lý qua phần mềm SPSS trên mẫu 507 phiếu và 3.989 quyết định khen thưởng cấp Nhà nước năm 2020, luận án đã làm rõ thực trạng bất cập về tỷ lệ khen thưởng giữa cán bộ quản lý và người lao động. Hệ thống quan điểm và tám nhóm giải pháp do luận án đề xuất cung cấp cơ sở khoa học xác thực, phục vụ trực tiếp cho việc thể chế hóa Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi nhằm bảo đảm tính chính xác, công khai, công bằng và kịp thời trong thực tiễn quản lý nhà nước.